Tình hình kinh tế - xã hội tháng 3, quý I năm 2026

Thứ năm - 02/04/2026 19:41

I. KINH TẾ

1. Tốc độ tăng tổng sản phẩm 

Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh Điện Biên (GRDP) ước quý I năm 2026 theo giá so sánh năm 2020 đạt 6.591,89 tỷ đồng, tăng 9,04% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Khu vực nông, lâm nghiệp thủy sản đạt 740,79 tỷ đồng, tăng 4%; khu vực công nghiệp - xây dựng đạt 1.109,95 tỷ đồng, tăng 12,67%; khu vực dịch vụ đạt 4.427,83 tỷ đồng, tăng 9,12%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm 313,32 tỷ đồng, tăng 7,91%. Xếp thứ 4/9 tỉnh Trung du và miền núi phía Bắc, xếp thứ 13/34 cả nước.

Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh Điện Biên theo giá hiện hành đạt 7.938,83 tỷ đồng, tăng 12,52% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 764,46 tỷ đồng, tăng 4,91%; khu vực công nghiệp - xây dựng đạt 1.545,13 tỷ đồng, tăng 18,01%; khu vực dịch vụ đạt 5.251,88 tỷ đồng, tăng 12,26%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm đạt 377,35 tỷ đồng, tăng 11,36%. 

Về cơ cấu nền kinh tế quý I năm 2026, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 9,63%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 19,46%; khu vực dịch vụ chiếm 66,16%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 4,75% (cơ cấu tương ứng của cùng kỳ năm 2025 là 10,33%; 18,56%; 66,31%; 4,8%).

2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

Sản xuất nông nghiệp quý I năm 2026 diễn ra trong điều kiện thời tiết thuận lợi, tiến độ gieo trồng lúa đông xuân thực hiện theo đúng lịch thời vụ. Đàn gia súc, gia cầm được chăm sóc và kiểm soát tốt dịch bệnh. Công tác quản lý, bảo vệ, phòng chống, chữa cháy rừng và chăm sóc rừng trồng được duy trì thường xuyên. Nuôi trồng và khai thác thủy sản tiếp tục được phát triển ổn định. Các sản phẩm nông lâm nghiệp và thuỷ sản đáp ứng nhu cầu phục vụ dịp Tết, các lễ hội và sự kiện văn hoá trên địa bàn tỉnh.

a) Nông nghiệp

* Trồng trọt

Cây hàng năm: Quý I/2026 toàn tỉnh đã gieo trồng được 14.461,55 ha cây hàng năm các loại, tăng 0,48%, trong đó:

- Lúa đông xuân: Tính đến thời điểm 20/3/2026, dự ước toàn tỉnh gieo cấy được 9.770,88 ha, tăng 0,08% so với chính thức cùng kỳ năm trước, vượt 0,58% kế hoạch.

- Các loại cây hoa màu khác quý I/2026: 

+ Ngô: Diện tích gieo trồng được 1.579,52 ha, giảm 9,7%, nguyên nhân do người dân làm đất, gieo trồng chưa đạt tiến độ.

+ Khoai lang: Diện tích gieo trồng 255,36 ha, tăng 82,23%, nguyên nhân do thị trường đầu ra ổn định, người dân mở rộng diện tích trồng, áp dụng tốt kỹ thuật canh tác tiên tiến, chi phí đầu tư thấp.

+ Lạc: Diện tích gieo trồng 287,88 ha, tăng 89,76%, với nhu cầu tiêu thụ cao, giá bán ổn định và phù hợp với khí hậu thổ nhưỡng tại địa phương nên người dân mở rộng diện tích trồng so cùng kỳ năm trước.

+ Rau các loại: Diện tích gieo trồng 2.521,6 ha, tăng 2,02%, giá bán rau ổn định, người dân tiếp tục triển khai trồng các giống cây mới mang lại giá trị dinh dưỡng cao, duy trì 25 ha rau sạch tại Hợp tác xã nông nghiệp công nghệ cao Si Pa Phìn.

Cây lâu năm: Quý I/2026 ước diện tích toàn tỉnh hiện có 31.551,94 ha, tăng 18,72%. Nhóm diện tích cây ăn quả chiếm 55,43% tổng diện tích cây lâu năm toàn tỉnh với 15.910,65 ha, tăng 7,89%. Một số lâu năm hiện có: Cà phê 8.387,31 ha; chè búp 633,99 ha; cao su 5.018,46 ha và mắc ca với 11.804,89 ha.

Sản lượng thu hoạch một số loại cây trong quý I/2026 ước đạt: Chè búp 24,41 tấn, tăng 1,2%; chuối 2.072,93 tấn, tăng 3,22%; dứa 637,0 tấn, tăng 3,51%; bưởi 210 tấn, tăng 3,6%; cao su 644,5 tấn, tăng 2,3%. Sản lượng đều tăng so với cùng kỳ năm trước, do thời tiết thuận lợi, một số cây có tỷ lệ đậu quả cao, khâu chăm sóc, chọn giống cây trồng, áp dụng khoa học kỹ thuật được quan tâm đầu tư cùng với nhu cầu thị trường lớn đã thúc đẩy người dân tập trung phát triển, mở rộng quy mô sản xuất.

Tình hình sâu, bệnh hại trên cây trồng: Trên địa bàn tỉnh xuất hiện một số sâu, bệnh gây hại đến sự sinh trưởng, phát triển của cây trồng, đặc biệt là trên lúa đông xuân và cây cà phê . Tổng diện tích nhiễm sinh vật gây hại trong tháng 3/2026 là 3.502,84 ha , tăng 647,22 ha so cùng kỳ năm trước; diện tích phòng trừ 3.439,7 ha.

* Chăn nuôi

Trong tháng, tình hình dịch bệnh trên đàn gia súc cơ bản được kiểm soát tốt.

Trong quý I/2026, trên địa bàn tỉnh  còn xảy ra dịch tả lợn Châu Phi tại 11/45 xã, phường với tổng số lợn thiệt hại 1.245 con; dịch lở mồm long móng ở trâu, bò thiệt hại 9 con; dịch bệnh khác thiệt hại 01 con. Kiểm dịch được 2.370 con lợn; 02 động vật khác xuất ngoài tỉnh, 10.786 kg thịt trâu, bò và 1.612 kg thịt lợn xuất Hà Nội.

Các mô hình nuôi nhốt chuồng, nuôi vỗ béo tăng trọng lượng bình quân xuất chuồng của đàn gia súc, gia cầm tạo hiệu quả kinh tế cao, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trên địa bàn tỉnh và các vùng lân cận, cùng với giá bán các sản phẩm chăn nuôi ổn định, giúp người dân yên tâm sản xuất và quan tâm đầu tư.

b) Lâm nghiệp

Trong quý, diện tích rừng trồng mới tập trung đang được các cơ quan, đơn vị quan tâm, chủ động, tích cực đẩy nhanh tiến độ thực hiện trồng các loại cây trồng phù hợp với phát triển kinh tế đồi, điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu nhằm đem lại giá trị kinh tế cao. Tháng 3/2026, sản lượng gỗ khai thác đạt 359 m3, tăng 3,76% so với thực hiện cùng kỳ năm trước; sản lượng củi khai thác đạt 69.265 ste, tăng 2,7%. Tính chung quý I/2026, sản lượng gỗ khai thác đạt 2.202 m3, tăng 0,05%; sản lượng củi khai thác đạt 201.345 ste, tăng 1,82%.

Diện tích rừng bị thiệt hại trong tháng là 2,42 ha, giảm 86,59% so với cùng kỳ năm trước, toàn bộ diện tích là rừng bị chặt, phá. Tính chung quý I/2026, toàn tỉnh có 11,57 ha rừng bị thiệt hại, giảm 81,86% so với cùng kỳ năm trước, toàn bộ diện tích là rừng bị chặt, phá, không xảy ra cháy rừng.

Từ ngày 06/12/2025 đến ngày 15/3/2026, tổng số vụ vi phạm Luật lâm nghiệp là 68 vụ . Cơ quan chức năng đã tịch thu 6,21 m3 gỗ các loại; tổng số tiền thu nộp ngân sách trong quý là 318,55 triệu đồng.

c) Thủy sản

Quý I, nuôi trồng và khai thác thuỷ sản trên địa bàn tỉnh tiếp tục được phát triển ổn định. Dự ước toàn tỉnh có 2.838,22 ha ao, hồ nuôi trồng thủy sản, tăng 3,29% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích nuôi cá 2.836,72 ha. Mô hình cá lồng bè được các hộ gia đình, hợp tác xã và doanh nghiệp ngoài nhà nước đầu tư nuôi, tổng toàn tỉnh đạt 389 lồng với thể tích 41.585 m3, mô hình nuôi cá hồi bằng bể bồn tại xã Quài Tở với 600 m3.

Sản lượng thủy sản tháng 3/2026 ước đạt 440,09 tấn, tăng 3,59% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: Nuôi trồng đạt 413,88 tấn, tăng 3,67%; khai thác đạt 26,21 tấn, tăng 2,46%. Tính chung quý I/2026, sản lượng thủy sản ước đạt 1.329,32 tấn, tăng 3,67% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: Nuôi trồng đạt 1.251,17 tấn, tăng 3,72%; khai thác đạt 78,15 tấn, tăng 3,01%.

Sản lượng thủy sản nuôi trồng trong tháng ước tính đạt 413,88 tấn, tăng 3,67% so với thực hiện cùng kỳ năm trước; bao gồm: cá đạt 408,18 tấn, tăng 3,66%; tôm đạt 1,08 tấn, giảm 2,86%; thủy sản khác 4,62 tấn, giảm 4,05%. Tính chung quý I/2026, sản lượng thủy sản nuôi trồng ước tính đạt 1.251,17 tấn, tăng 3,72% so với cùng kỳ năm trước; bao gồm: cá đạt 1.234,44 tấn, tăng 3,71%; tôm đạt 3,26 tấn, tăng 3,82%; thủy sản khác đạt 13,47 tấn, tăng 4,5%. 

Sản lượng thuỷ sản khai thác trong tháng dự ước đạt 26,21 tấn, tăng 2,46% so với thực hiện cùng kỳ năm trước; bao gồm: cá đạt 19,65 tấn, tăng 2,23%; tôm đạt 2,19 tấn, tăng 2,34%; thủy sản khác 4,37 tấn, tăng 3,07%. Tính chung quý I/2026, sản lượng thủy sản khai thác ước tính đạt 78,15 tấn, tăng 3,01% so với cùng kỳ năm trước; bao gồm: cá đạt 58,73 tấn, tăng 3%; tôm đạt 5,56 tấn, tăng 2,21%; thủy sản khác đạt 13,86 tấn, tăng 3,36%.

Nhìn chung, sản xuất nông nghiệp quý I duy trì ổn định, cơ cấu cây trồng chuyển dịch tích cực theo hướng nâng cao hiệu quả kinh tế.

3. Sản xuất công nghiệp

Sản xuất công nghiệp tháng 3/2026 ước tăng 18,26% so với tháng trước, so với cùng kỳ năm trước tăng 20,32%; tính chung quý I/2026, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 16,36% so với quý I/2025. 

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng 3/2026 ước tính tăng 18,26% so với tháng trước và tăng 20,32% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành khai khoáng tăng 85,2% và tăng 5,53%; ngành chế biến, chế tạo tăng 18,33% và tăng 20,99%; sản xuất và phân phối điện tăng 9,13% và tăng 24,8%, cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,41% và tăng 16,58%.

Tính chung quý I/2026, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước tăng 16,36% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành khai khoáng tăng 11,11%; ngành chế biến, chế tạo tăng 18,23%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 12,67%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 11,87%. IIP ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giữ vai trò quan trọng trong mức tăng chung của toàn ngành, đây là ngành chiếm tỷ trọng cao, có sự ảnh hưởng lớn và sức kéo mạnh mẽ trong tháng 3, góp phần thúc đẩy tăng trưởng của quý I.

Chỉ số sản xuất quý I/2026 của một số ngành công nghiệp cấp II tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Khai thác than cứng và than non tăng 40,11%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc và thiết bị tăng 35,45%; sản xuất đồ uống tăng 33,54%; dệt tăng 21,13%; sản xuất trang phục tăng 20,01%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 23,27%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 21,77%; sản xuất giường tủ, bàn, ghế tăng 17,88%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 15,24%...Ở chiều ngược lại công nghiệp chế biến, chế tạo khác giảm 14,5%.

Một số sản phẩm công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong quý I/2026 tăng so với cùng kỳ năm trước: Than đá tăng 40,11%; giường bằng gỗ các loại tăng 27,91%; nước không uống được tăng 26,49%; các hợp chất từ cao su tổng hợp và cao su tự nhiên và các loại nhựa tự nhiên tương tự, ở dạng nguyên sinh hoặc tấm lỏ hoặc dải tăng 23,17%; cửa ra vào, cửa sổ bằng sắt, thép tăng 21%; điện sản xuất tăng 13,5%; thiết bị dùng cho dàn giáo, ván khuôn, vật chống hoặc cột trụ chống hầm lò bằng sắt, thép, nhôm tăng 12,3%; nước uống được tăng 12,41%; đá xây dựng khác tăng 10,86%. Ở chiều ngược lại dịch vụ sản xuất đồ kim hoàn và chi tiết liên quan giảm 14,75%.

Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tại thời điểm 31/3/2026 tăng 24,67% so với tháng trước và tăng 431,69%  so với cùng thời điểm năm trước. 

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 3/2026 tăng 92,81% so với tháng trước và giảm 1,12% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I/2026, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 3,82% so với cùng kỳ năm 2025.

Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/3/2026 tăng 21,21% so với tháng cùng kỳ năm trước, trong đó: Lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 46,18%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 3,32%. Tính chung quý I/2026 số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tăng 22,15% (khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 46,24%, nhờ việc đưa vào vận hành nhà máy cao su Điện Biên góp phần giải quyết nhu cầu việc làm bền vững đối với hàng trăm lao động tại địa phương; khu vực doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 4,57%).

4. Hoạt động của doanh nghiệp

a) Tình hình đăng ký doanh nghiệp

Trong quý I/2026 có 105 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 250% so với cùng kỳ, tổng số vốn đăng ký 677,94 tỷ đồng, tăng 245,6% so với cùng kỳ năm trước; có 77 chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh đăng ký hoạt động; 09 doanh nghiệp giải thể (cùng kỳ 07 doanh nghiệp); 72 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, giảm 92% so với cùng kỳ; 30 doanh nghiệp hoạt động trở lại. 

b) Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp 

Nhờ những bước chuyển mình mạnh mẽ, đẩy mạnh hoạt động sản xuất ngay từ đầu năm, là tiền đề vững chắc để các doanh nghiệp công nghiệp vươn mình phát triển mạnh mẽ, đạt kết quả cao trong quý tới, góp phần thúc đẩy hoàn thành mục tiêu năm 2026. Theo đó trong số 17 doanh nghiệp mẫu được hỏi, có 12 doanh nghiệp tương ứng 70,59% lựa chọn hoạt động sản xuất kinh doanh trong quý tới thuận lợi hơn, nhóm này bao gồm các doanh nghiệp hoạt động ngành in ấn, sản xuất mủ cao su sơ chế, sản xuất sản phẩm từ khoáng phi loại khác, sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn, sản phẩm đầu ra của những ngành này chiếm tỷ trọng lớn và tác động mạnh đến toàn ngành; 2 doanh nghiệp (tương ứng 11,76%) lựa chọn không thay đổi và 3 doanh nghiệp (hoạt động trong lĩnh vực sản xuất đồ kim hoàn và chi tiết có liên quan) (tương ứng 17,65%) lựa chọn phương án khó khăn hơn, chỉ số cân bằng đạt 52,94%. 

5. Xây dựng 

Giá trị sản xuất xây dựng theo giá hiện hành trên địa bàn tỉnh Điện Biên quý I/2026 ước đạt 2.504,51 tỷ đồng, giảm 45,58% so với quý trước và tăng 14,32% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân tăng chủ yếu đến từ việc đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công ngay đầu năm, tập trung đẩy nhanh tiến độ các công trình  trọng điểm.

Chia theo loại hình sở hữu: Doanh nghiệp nhà nước đạt 17,03 tỷ đồng (chiếm 0,68%), tăng 138,92% so với quý trước và tăng 33,4 lần so với cùng kỳ năm trước; doanh nghiệp ngoài Nhà nước đạt 1.462,89 tỷ đồng (chiếm 58,41%), giảm 47,5% và tăng 22,34%. Các loại hình khác bao gồm xây dựng của các xã, phường; hoạt động của các đội xây dựng cá thể và xây dựng tự làm, tự ở của các hộ gia đình đạt 1.024,6 tỷ đồng (chiếm 40,91%), giảm 43,33% và tăng 3,02%. 

Chia theo loại công trình: Công trình nhà ở đạt 931,85 tỷ đồng (chiếm 37,21%), giảm 39,9% và giảm 5,27%. Công trình nhà không để ở đạt 432,15 tỷ đồng (chiếm 17,25%), giảm 59,45% và tăng 14,55%. Công trình kỹ thuật dân dụng đạt 1.074,52 tỷ đồng (chiếm 42,9%), giảm 43,41% và tăng 36,31%. Hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 66 tỷ đồng (chiếm 2,46%), giảm 23,92% và tăng 58,76%.

Giá trị sản xuất ngành xây dựng quý I/2026 theo giá so sánh năm 2020 ước đạt 2.074.095 triệu đồng, giảm 45,54% so với quý IV/2025, tăng 12,8% so với cùng kỳ năm trước; Giá trị sản xuất chia theo loại công trình so với cùng kỳ năm trước, cụ thể: (1).Công trình nhà ở ước đạt 769.992 triệu đồng, giảm 6,6%; (2).Công trình nhà không để ở đạt 357.090 triệu đồng, tăng 12,93%; (3).Công trình kỹ thuật dân dụng đạt 887.883 triệu đồng, tăng 34,38%; Hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 59.130 triệu đồng, tăng 58,32%. 

6. Thương mại, dịch vụ, vận tải

a) Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 

Hoạt động thương mại và dịch vụ tháng 3 năm 2026 rất sôi động, trong tháng với nhiều chương trình thuộc Lễ hội Hoa Ban năm 2026 được tổ chức... đã thu hút đông đảo lượng khách du lịch đến với Điện Biên. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 0,81% so với tháng trước và  tăng 23,46% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I/2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 21,67% so với cùng kỳ năm trước.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 3 năm 2026 ước tính đạt 2.926,87 tỷ đồng, tăng 0,81% so với tháng trước, tăng 23,46% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I/2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 8.623,22 tỷ đồng, tăng 21,67% so với cùng kỳ năm trước.

* Bán lẻ hàng hoá 

Tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 3 năm 2026 ước đạt 2.167,1 tỷ đồng, giảm 1,19% so với tháng trước và tăng 23,81% so với cùng kỳ năm trước. Mức giảm nhẹ so với tháng trước chủ yếu do nhu cầu tiêu dùng sau dịp tết Nguyên đán có xu hướng giảm. Tuy nhiên, so với cùng kỳ, tổng mức bán lẻ vẫn duy trì mức tăng trưởng cao, phản ánh xu hướng phục hồi tích cực của thị trường tiêu dùng trên địa bàn. Nhìn chung, hoạt động thương mại trong tháng diễn ra ổn định, nguồn cung hàng hóa dồi dào, đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu dùng của người dân.

Xét theo nhóm hàng, một số nhóm ghi nhận mức giảm so với tháng trước như lương thực, thực phẩm giảm 2,77%; hàng may mặc giảm 2,3%; ô tô con giảm 2,35%; phương tiện đi lại giảm 2,22%; hàng hóa khác giảm 2,61%. Nguyên nhân chủ yếu do nhu cầu mua sắm các mặt hàng này thường tăng mạnh vào thời điểm trước và trong Tết, sau đó giảm trở lại trong các tháng đầu năm. Bên cạnh đó, một số chương trình khuyến mại, kích cầu tiêu dùng kết thúc sau Tết cũng góp phần làm giảm sức mua. Tâm lý tiết kiệm chi tiêu của người dân trong giai đoạn đầu năm cũng là yếu tố ảnh hưởng đáng kể.

Ở chiều ngược lại, một số nhóm hàng có mức tăng so với tháng trước như vật phẩm văn hóa, giáo dục tăng 0,85%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 1,95%; xăng dầu các loại tăng 1,43%; nhiên liệu khác tăng 1,83%. Nguyên nhân chủ yếu do các hoạt động sản xuất, kinh doanh và xây dựng dần trở lại bình thường sau kỳ nghỉ Tết, kéo theo nhu cầu về nguyên, nhiên vật liệu tăng lên. Nhu cầu đi lại, vận chuyển hàng hóa phục vụ sản xuất và tiêu dùng tăng, làm gia tăng tiêu thụ xăng dầu. Ngoài ra, nhu cầu học tập, bổ sung sách vở, đồ dùng học tập sau kỳ nghỉ cũng góp phần làm tăng nhóm hàng văn hóa, giáo dục.

So với cùng kỳ năm trước, hầu hết các nhóm hàng đều tăng khá, trong đó gỗ và vật liệu xây dựng tăng 29,14%; phương tiện đi lại tăng 28,64%; nhiên liệu các loại tăng trên 28%; hàng may mặc tăng 24,77%; lương thực, thực phẩm tăng 24,03%. Mức tăng cao này phản ánh sự phục hồi mạnh mẽ của hoạt động sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng trên địa bàn. Đồng thời, các chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế, kích cầu tiêu dùng và thúc đẩy thương mại, du lịch được triển khai hiệu quả đã góp phần nâng cao tổng mức bán lẻ hàng hóa.

* Dịch vụ lưu trú và ăn uống 

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng 3 năm 2026 ước đạt 295,94 tỷ đồng, tăng 15,43% so với tháng trước và tăng 39,66% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Dịch vụ lưu trú đạt 33,98 tỷ đồng, tăng 18,31% và tăng 76,17%; dịch vụ ăn uống đạt 261,97 tỷ đồng, tăng 15,07% và tăng 36%. Tính chung quý I/2026 đạt 800,26 tỷ đồng, tăng 26,83% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Dịch vụ lưu trú đạt 90,48 tỷ đồng, tăng 52,99%; dịch vụ ăn uống đạt 709,78 tỷ đồng, tăng 24,12%.

Nguyên nhân chủ yếu của mức tăng trong tháng 3 và quý I năm 2026 là do tỉnh Điện Biên bước vào mùa lễ hội, du xuân và cao điểm du lịch đầu năm, thu hút đông khách trong và ngoài tỉnh; đồng thời thời tiết thuận lợi, hạ tầng giao thông dần cải thiện và các chương trình kích cầu, quảng bá du lịch được đẩy mạnh, góp phần gia tăng nhu cầu lưu trú, ăn uống và tham quan. Bên cạnh đó, hoạt động thương mại - dịch vụ ổn định, thu nhập người dân cải thiện giúp thúc đẩy chi tiêu. Tuy nhiên, mức tăng giữa các ngành chưa đồng đều, một số lĩnh vực tăng chậm; du lịch lữ hành dù tăng nhanh nhưng quy mô còn nhỏ, cho thấy tiềm năng chưa được khai thác đầy đủ.

* Dịch vụ khác

Doanh thu một số ngành dịch vụ khác tháng 3 năm 2026 ước tính đạt 463,26 tỷ đồng, tăng 2,24% so với tháng trước, tăng 13,46% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I/2026 đạt 1.357,93 tỷ đồng, tăng 11,84% so với cùng kỳ năm trước.

b) Hoạt động Vận tải

Trong tháng, tỉnh Điện Biên tổ chức nhiều hoạt động văn hóa, du lịch trong khuôn khổ Lễ hội Hoa Ban như: Diễu hành, carnaval đường phố, trình diễn  trang phục truyền thống các dân tộc, khai mạc Phố đi bộ chợ đêm Mường Thanh... Lễ hội được tổ chức với các chuỗi hoạt động đặc sắc xuyên suốt trong tháng, là dịp để tỉnh Điện Biên thu hút khách du lịch trong nước và khách du lịch quốc tế. Góp phần tác động tích cực đến hoạt động vận tải so với cùng kỳ năm trước vận chuyển hành khách tăng 39,65% và luân chuyển hành khách tăng 42,6%; vận chuyển hàng hóa tăng 18,17% và luân chuyển hàng hóa tăng 17,47%.

Quý I/2026, vận chuyển hành khách tăng 26,88%, luân chuyển hành khách tăng 31,53% và vận chuyển hàng hóa tăng 13,27%, luân chuyển hàng hóa tăng 13,79% so với cùng kỳ năm trước.

Tổng doanh thu của hoạt động vận tải, kho bãi ước thực hiện tháng 3/2026 đạt 169,22 tỷ đồng, tăng 1,48% so với tháng trước và tăng 21,52% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I/2026, ước đạt 493,71 tỷ đồng, tăng 16,42% so với cùng kỳ năm trước (bao gồm: Vận tải hành khách ước đạt 103,4 tỷ đồng, tăng 28,07%; vận tải hàng hóa ước đạt 385,58 tỷ đồng, tăng 13,77%; hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 3,85 tỷ đồng, tăng 6,69%; bưu chính chuyển phát ước đạt 0,89 tỷ đồng, tăng 9,48%).

Vận tải hành khách trong tháng ước đạt 357,43 nghìn hành khách, tăng 0,52% so với tháng trước, tăng 39,65% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển 40,86 triệu HK.km, tăng 0,87% và tăng 42,6%. Tính chung quý I/2026, vận tải hành khách ước đạt 1.024,48 nghìn hành khách, tăng 26,88% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển 116,57 triệu HK.Km, tăng 31,53%.

Vận tải hàng hóa trong tháng ước đạt 790,78 nghìn tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 1,44% so với tháng trước, tăng 18,17% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển 39,09 triệu tấn.km; tăng 1,67% so với tháng trước, tăng 17,47% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I/2026, vận tải hàng hóa đạt 2.325,62 nghìn tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 13,27% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển 114,74 triệu tấn.km, tăng 13,79%.

c) Bưu chính viễn thông

Dịch vụ bưu chính viễn thông tiếp tục đà tăng trưởng; cơ sở hạ tầng được mở rộng; chất lượng dịch vụ có nhiều đổi mới, đa dạng, đáp ứng ngày một tốt hơn nhu cầu thị trường.

Doanh thu dịch vụ bưu chính viễn thông ước quý I/2026 đạt 231.420 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước tăng 1,09% (doanh thu dịch vụ bưu chính, chuyển phát đạt 39.320 triệu đồng, tăng 4,32%; doanh thu dịch vụ viễn thông đạt 192.100 triệu đồng, tăng 0,46%). 

Số thuê bao điện thoại ước đạt 557.490 thuê bao (có đến cuối kỳ báo cáo), so với năm trước tăng 16,69% (thuê bao cố định đạt 5.820 thuê bao, tăng 26,79%; thuê bao di động đạt 551.688 thuê bao, tăng 16,59%).

Số thuê bao internet ước đạt 87.200 thuê bao (có đến cuối kỳ báo cáo); so với cùng kỳ năm trước tăng 10,30%.

II. ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ, KIỂM SOÁT LẠM PHÁT

1. Hoạt động ngân hàng 

Ngành ngân hàng đã bám sát chỉ đạo của Chính phủ và Ngân hàng Trung ương trong thực hiện quản lý hoạt động tài chính, tiền tệ trên địa bàn đảm bảo chặt chẽ, đúng định hướng; ưu tiên tập trung cho vay lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, doanh nghiệp nhỏ và vừa, các dự án trọng điểm của tỉnh; kịp thời thực hiện các yêu cầu, giải pháp theo chỉ đạo để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, người dân.

Hoạt động huy động vốn: Tổng nguồn vốn huy động ước thực hiện đến 31/3/2026 là 25.597 tỷ đồng, tăng 3,44% so với 31/12/2025, tăng 14,36% so với cùng kỳ năm trước. Tiền gửi VNĐ vẫn chiếm tỷ trọng lớn, với 99,87%/tổng nguồn vốn huy động. Nguồn vốn huy động tiếp tục tăng ở tiền gửi tiết kiệm trong khi giảm ở tiền gửi thanh toán, nguồn vốn huy động từ phát hành giấy tờ có giá tiếp tục giữ ổn định.

Hoạt động tín dụng: Tổng dư nợ tín dụng ước thực hiện đến 31/3/2026 là 22.271 tỷ đồng, giảm 2,83% so với 31/12/2025, giảm 1,22% so với cùng kỳ năm trước. Cho vay bằng VNĐ vẫn chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng dư nợ trên địa bàn (99,31%). Tín dụng cho vay nền kinh tế có xu hướng giảm dần cho vay ngắn hạn trong khi tăng dần cho vay dài hạn. Các ngân hàng trên địa bàn tiếp tục tuyên truyền và áp dụng nhiều hình thức huy động vốn khác nhau, linh hoạt, phù hợp với diễn biến thị trường.

Nợ xấu (nợ nhóm 3,4,5) của các Tổ chức tín dụng trên địa bàn ước thực hiện đến ngày 31/3/2026 là 195 tỷ đồng, chiếm 0,87%/tổng dư nợ.

2. Đầu tư phát triển

Vốn đầu tư phát triển trên địa bàn quý I/2026 ước tính đạt 3.499,06 tỷ đồng, tăng 6,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý quý I/2026 ước tính đạt 695,64 tỷ đồng, tăng 30,09% so với cùng kỳ năm trước và đạt 24,62% kế hoạch. 

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý tháng 3 năm 2026 ước đạt 225,69 tỷ đồng, tăng 2,39% so với tháng trước, tăng 25,15% so với cùng kỳ năm trước. Bao gồm: vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 225,69 tỷ đồng (chiếm 100%), tăng 2,39% và tăng 29,58%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã chưa thực hiện do nguồn vốn thuộc Chương trình Mục tiêu Quốc gia năm 2026 chưa được phân bổ.

Tính chung quý I/2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước đạt 695,64 tỷ đồng, tăng 30,09% so với cùng kỳ năm trước, đạt 22,28% kế hoạch. Bao gồm: vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 695,64 tỷ đồng (chiếm 100%), tăng 34,56%, đạt 22,28% kế hoạch; vốn ngân sách nhà nước cấp xã chưa thực hiện.

Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Điện Biên tháng 3 năm 2026 ước đạt 1.124,44 tỷ đồng, tăng 2,14% so với tháng trước, tăng 0,38% so với cùng kỳ năm trước. Bao gồm: Vốn Nhà nước trên địa bàn đạt 358,64 tỷ đồng, tăng 2,51% và giảm 20,32% (vốn Trung ương quản lý đạt 97,98 tỷ đồng, tăng 2,74% và giảm 58,02%; vốn địa phương quản lý đạt 260,66 tỷ đồng, tăng 2,42% và tăng 20,3%); vốn ngoài Nhà nước đạt 765,8 tỷ đồng, tăng 1,97% và tăng 14,29%. 

Tính chung quý I/2026, vốn đầu tư phát triển toàn xã hội ước đạt 3.499,06 tỷ đồng, tăng 6,3% so với cùng kỳ năm trước, đạt 14% kế hoạch. Cụ thể: Vốn đầu tư thuộc ngân sách Nhà nước đạt 926,91 tỷ đồng, giảm 13,95%; vốn vay từ các nguồn khác (của khu vực Nhà nước) đạt 10,94 tỷ đồng, giảm 4,65%; vốn đầu tư của doanh nghiệp Nhà nước (vốn tự có) đạt 33,29 tỷ đồng giảm 75,02%; vốn đầu tư của dân cư và tư nhân đạt 2.369,63 tỷ đồng, tăng 20,54%; vốn huy động khác đạt 158,3 tỷ đồng, tăng 52,07%.

3. Thu, chi ngân sách Nhà nước

Thu ngân sách Nhà nước quý I năm 2026 ước tăng 6,33% so với cùng kỳ năm trước. Chi ngân sách Nhà nước ước tăng 15,43% so với cùng kỳ năm trước, chi ngân sách đảm bảo các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý Nhà nước, cũng như chi trả kịp thời cho các đối tượng theo quy định.

a) Thu ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước tháng 3/2026 ước đạt 138,49 tỷ đồng. Lũy kế tổng thu ngân sách Nhà nước quý I/2026 đạt 482,02 tỷ đồng, tăng 6,33% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó:

- Thu nội địa tháng 3/2026 đạt 135,87 tỷ đồng; lũy kế quý I/2026 đạt 474,7 tỷ đồng (chiếm 98,48%), tăng 8,91% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: thu từ khu vực công, thương nghiệp ngoài quốc doanh đạt 184,29 tỷ đồng (chiếm 38,23%), tăng 34,42%; các khoản thu về nhà đất ước đạt 68,82 tỷ đồng (chiếm 14,28%), giảm 19,52%; thuế thu nhập cá nhân ước đạt 40,01 tỷ đồng (chiếm 8,3%), tăng 38,6%.

- Thu cân đối hoạt động xuất nhập khẩu tháng 3/2026 đạt 0,77 tỷ đồng; lũy kế quý I/2026 đạt 4,97 tỷ đồng (chiếm 1,03%), tăng 1,81 lần so với cùng kỳ năm trước. 

- Thu viện trợ các khoản huy động đóng góp tháng 3/2026 đạt 1,85 tỷ đồng; lũy kế quý I/2026 đạt 2,36 tỷ đồng (chiếm 0,49%), giảm 85% so với cùng kỳ năm trước. 

b) Chi ngân sách Nhà nước

Tổng chi ngân sách Nhà nước tháng 3/2026 ước đạt 2.454,55 tỷ đồng; lũy kế quý I/2026 đạt 5.115,6 tỷ đồng, tăng 15,43% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, chi đầu tư phát triển đạt 1.661,14 tỷ đồng (chiếm 32,47%), tăng 10,21%; chi thường xuyên đạt 3.409,95 tỷ đồng (chiếm 66,66%), tăng 16,73%.

4. Hoạt động xuất - nhập khẩu 

Tình hình hoạt động xuất nhập khẩu, dịch vụ và hoạt động trao đổi thương mại biên giới quý I/2026 tương đối ổn định, không có tình trạng ùn tắc hàng hóa tại các cửa khẩu trên địa bàn tỉnh.

Trong tháng Ba, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước đạt 15,51 triệu USD, tăng 15,92% so với tháng trước và tăng 32,23% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I/2026, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 41,18 triệu USD, tăng 23,78% so với cùng kỳ năm trước, đạt 25,74% kế hoạch, trong đó xuất khẩu tăng 2,9%; nhập khẩu tăng 85,29%. 

Xuất khẩu hàng hóa: Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 3/2026 ước đạt 9,08 triệu USD, tăng 1,45% so với tháng trước và tăng 3,06% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I/2026, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ ước đạt 25,56 triệu USD, tăng 2,9% so với cùng kỳ năm trước và đạt 24,34% kế hoạch. Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu trong quý là hàng bách hóa tổng hợp, nông sản và vật liệu xây dựng.

Nhập khẩu hàng hóa: Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 3/2026 ước đạt 6,43 triệu USD, tăng 45,15% so với tháng trước và tăng 120,21% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I/2026, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa ước đạt 8,43 triệu USD, tăng 85,29% so với thực hiện cùng kỳ năm trước, đạt 28,4% kế hoạch. Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu qua cửa khẩu quốc tế Tây Trang: Gỗ, hàng nông sản, máy móc thiết bị phục vụ các công trình thủy điện và một số công trình khác.

5. Giá cả

a) Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)

 Diễn biến giá cả tháng 3 năm 2026 chịu tác động tổng hợp của nhiều yếu tố, trong đó nổi bật là giá xăng, dầu tăng do ảnh hưởng từ tình hình xung đột phức tạp giữa Mỹ, Israel và Iran trên thế giới. Bên cạnh đó, nhu cầu tiêu dùng và xây dựng đầu năm tăng, cùng với chi phí vận chuyển và một số yếu tố về nguồn cung hàng hóa đã tạo áp lực làm tăng mặt bằng giá. Tuy nhiên, xu hướng giảm giá ở một số mặt hàng thiết yếu sau Tết đã góp phần kiềm chế đà tăng chung. Tác động tổng hợp của các yếu tố trên đã làm CPI tháng 3 năm 2026 tăng 0,85% so với tháng trước, tăng 4,26% so với cùng kỳ năm trước và tăng 7,51% so với kỳ gốc năm 2024. Bình quân quý I năm 2026, CPI tăng 3,27% so với cùng kỳ năm trước.

Trong mức tăng 0,85% của CPI tháng 3/2026 so với tháng trước, có 5 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng, 01 nhóm có chỉ số bình ổn và 5 nhóm hàng hoá có chỉ số giá giảm, phản ánh xu hướng biến động giá đan xen giữa các nhóm hàng.

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 3/2026 tăng chủ yếu do tác động của một số nhóm hàng có mức tăng cao, nổi bật là nhóm giao thông tăng mạnh 13,07% do giá xăng, dầu tăng theo diễn biến thị trường thế giới; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,78% do chi phí vận chuyển tăng; nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,08% do nhu cầu xây dựng đầu năm tăng trong khi nguồn cung vật liệu (cát, đá, sỏi) bị hạn chế; nhóm giáo dục tăng 0,2% và nhóm hàng hóa, dịch vụ khác tăng nhẹ 0,02%, trong đó giá vàng tăng kéo theo giá đồ trang sức tăng. Ở chiều ngược lại, một số nhóm hàng góp phần kiềm chế mức tăng CPI, như nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 1,6%  do giá gạo và thực phẩm giảm khi nguồn cung dồi dào, nhu cầu sau Tết giảm; nhóm may mặc, mũ nón, giày dép giảm 1,09% và đồ uống, thuốc lá giảm 0,79% do sức mua suy yếu; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,19% và thông tin, truyền thông giảm 0,02% do nhu cầu tiêu dùng giảm. Nhóm thuốc và dịch vụ y tế cơ bản ổn định, góp phần làm cho mặt bằng giá chung không biến động mạnh.

CPI bình quân quý I năm 2026 tăng 3,27% so với bình quân cùng kỳ năm trước, phản ánh mặt bằng giá nhìn chung có xu hướng tăng ở tất cả các nhóm hàng hóa và dịch vụ. Trong đó, cả 11/11 nhóm hàng đều ghi nhận mức tăng, nổi bật là nhóm giáo dục tăng cao nhất 10,39% do điều chỉnh học phí theo lộ trình; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 5,28% và nhóm hàng ăn, dịch vụ ăn uống tăng 4,94% do giá nguyên liệu đầu vào và chi phí vận chuyển tăng. Một số nhóm có mức tăng khá như hàng hóa và dịch vụ khác tăng 3,54%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 3,4%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,76%. Các nhóm còn lại có mức tăng thấp hơn, gồm giao thông tăng 1,44%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,86%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,75%; thông tin và truyền thông và văn hóa, giải trí và du lịch cùng tăng nhẹ 0,04%.

* Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ

Chỉ số giá vàng tháng 3/2026 tăng 1,06% so với tháng trước, tăng 91,56% so với cùng kỳ năm trước, tăng 16,55% so với tháng 12 năm trước và tăng 129,07% so với kỳ gốc 2024. Bình quân quý I năm 2026 tăng 92,18% so với cùng kỳ năm trước.

Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 3/2026 tăng 0,62% so với tháng trước, tăng 2,39% so với cùng kỳ năm trước, giảm 0,35% so với tháng 12 năm trước và tăng 6,09% so với kỳ gốc 2024. Bình quân quý I năm 2026 tăng 2,79% so với cùng kỳ năm trước.

b) Chỉ số giá sản xuất

Tình hình giá cả sản xuất quý I/2026 có nhiều biến động do nhu cầu thị trường tăng cao vào dịp trước, trong và sau tết Nguyên đán. Ra Tết là thời điểm nhiều chủ đầu tư cũng như cá nhân sẽ triển khai các công trình, dự án; trong quý Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam điều chỉnh tăng, giảm giá bán lẻ nhiều lần đã tác động làm giá sản xuất tăng so với quý trước.

Chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản quý I/2026 tăng 1,23% so với quý trước, tăng 1,44% so với cùng kỳ năm trước, cụ thể: Sản phẩm nông nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng 1,32% và tăng 1,62%; sản phẩm thủy sản nuôi trồng, khai thác tăng 1,95% và tăng 2,98%; sản phẩm lâm nghiệp và dịch vụ có liên quan giảm 0,37% và giảm 1,03%.

Chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp quý I/2026 tăng 0,75% so với quý trước, tăng 1,28% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Sản phẩm khai khoáng không đổi so với quý trước và giảm 0,24%; Sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,97% và tăng 0,61%; Nước tự nhiên khai thác; dịch vụ quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,35% và tăng 1,24%; điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 0,19% và tăng 3,09%

Chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất quý I/2026 tăng 0,48% so với quý trước, tăng 2,24% so với cùng kỳ năm trước. Giá và chỉ số giá nguyên, nhiên, vật liệu dùng cho sản xuất tăng ở mức khá, tập trung ở một số nhóm vật liệu xây dựng, nhiên liệu và nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất công nghiệp. Biến động này đã tác động trực tiếp làm gia tăng chi phí sản xuất của các ngành kinh tế, đặc biệt là khu vực công nghiệp và xây dựng.

III. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI

1. Lao động, việc làm

Tình hình lao động, việc làm quý I năm 2026 trên địa bàn tỉnh Điện Biên cơ bản ổn định, có xu hướng tăng. Lực lượng lao động, số người có việc làm và thu nhập bình quân tháng của người lao động đều tăng so với quý trước và cùng kỳ năm trước, cho thấy thị trường lao động tiếp tục duy trì đà phục hồi.

Với đặc thù là tỉnh miền núi, dân cư chủ yếu sinh sống ở khu vực nông thôn, hoạt động sản xuất tập trung vào nông, lâm nghiệp và thủy sản, do đó cơ cấu lao động có sự chênh lệch rõ giữa khu vực thành thị và nông thôn. Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên quý I/2026 ước đạt 358.637 người, tăng 2,09% so với cùng kỳ năm trước; trong đó khu vực thành thị đạt 54.008 người, chiếm 15,06%, khu vực nông thôn đạt 304.629 người, chiếm 84,94%, cho thấy lao động vẫn tập trung chủ yếu ở khu vực nông thôn. 

Dự tính lao động có việc làm trong quý I/2026 là 357.214 người, tăng 2,28% so với cùng kỳ năm trước, trong đó lao động ở khu vực thành thị là 53.850 người (chiếm 15,07%) và nông thôn là 303.364 người (chiếm 84,93%). Chuyển dịch cơ cấu có xu hướng giảm tỷ lệ lao động trong các ngành nông, lâm, thủy sản và tăng tỷ lệ lao động ở các ngành xây dựng và dịch vụ.

Trong quý I, có nhiều cơ hội tìm kiếm việc làm, nhiều sự lựa chọn cho người lao động, toàn tỉnh có 2.788 lao động được tạo việc làm mới (tăng 6,98% so với cùng kỳ năm trước, đạt 29,98% kế hoạch).

Số người thất nghiệp giảm, trong quý I/2026 có 227 người nộp hồ sơ bảo hiểm thất nghiệp; số người có quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp là 268 người. Tổng số tiền hưởng trợ cấp thất nghiệp là 4.896,8 triệu đồng. 

2. Đời sống dân cư, an sinh xã hội

a) Đời sống dân cư

Đời sống các tầng lớp dân cư trên địa bàn tỉnh Điện Biên trong quý I năm 2026 nhìn chung ổn định và có bước phát triển. Trong quý diễn ra tết Nguyên đán và nhiều hoạt động văn hóa, du lịch và quảng bá hình ảnh địa phương, qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành dịch vụ phát triển, nhất là lĩnh vực du lịch. Hoạt động thương mại, dịch vụ diễn ra sôi động, đáp ứng tốt nhu cầu tiêu dùng của người dân và khách du lịch. Bên cạnh đó, việc giới thiệu và tiêu thụ các sản phẩm OCOP gắn với du lịch đã góp phần thúc đẩy sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn. Thu nhập của người dân có xu hướng cải thiện so với cùng kỳ năm trước, đặc biệt tại khu vực đô thị và các điểm du lịch. Công tác bảo đảm an sinh xã hội, chăm lo đời sống cho các đối tượng chính sách, hộ nghèo tiếp tục được triển khai kịp thời, hiệu quả.

b) Bảo trợ xã hội

Nhân dịp tết Nguyên đán, từ kinh phí phân bổ của Trung ương, từ nguồn kinh phí của tỉnh, của cấp xã, nguồn vận động hỗ trợ các tập thể, cá nhân, toàn tỉnh đã thực hiện tiếp nhận hỗ trợ tặng 27.139 suất quà cho đối tượng bảo trợ xã hội với trị giá 10.855,6 triệu đồng; Hỗ trợ thiếu đói cho 7.779 hộ (tăng 3.411 hộ so với cùng kỳ năm trước) với 36.282 khẩu (tăng so với cùng kỳ năm trước 18.531 khẩu), số gạo hỗ trợ 544,23 tấn.

Thực hiện tốt chính sách trợ giúp xã hội trên địa bàn tỉnh, tính đến thời điểm báo cáo: Tổng số đối tượng hưởng chế độ trợ cấp xã hội trên toàn tỉnh là 35.704 đối tượng với số tiền đã chi trả là 64.012 triệu đồng (còn một số xã chưa thực hiện chi).

Về cấp phát thẻ Bảo hiểm y tế, tính đến ngày 23/3/2026 đã phát miễn phí 500.711 thẻ (tăng so với cùng kỳ năm trước là 25.563 thẻ do tăng thêm đối tượng được nhận thẻ BHYT miễn phí), trong đó: Trẻ em dưới 6 tuổi 75.033 thẻ, bảo trợ xã hội và cựu chiến binh 9.699 thẻ, người nghèo 125.217 thẻ, cận nghèo 2.375 thẻ; người có công và thân nhân 1.263 thẻ, người cao tuổi 106 thẻ, người tham gia kháng chiến 1.316 thẻ; người đã hiến bộ phận cơ thể 4 thẻ; người dân tộc nằm trong vùng đặc biệt khó khăn 274.474 thẻ và người kinh sống trong vùng đặc biệt khó khăn 11.224 thẻ.

c) Tình hình thiếu đói trong dân cư 

Trong tháng, hỗ trợ gạo dịp giáp hạt cho 11.786 hộ với 56.045 nhân khẩu thiếu đói, nhu cầu cần hỗ trợ gạo là 2.280,7 tấn. Lũy kế đến quý I/2026 đã hỗ trợ cho 19.565 hộ với 92.327 nhân khẩu thiếu đói, nhu cầu cần hỗ trợ gạo là 2.824,9 tấn.

d) Công tác giảm nghèo

Kết quả tổng rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2025 theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022-2025 trên địa bàn tỉnh Điện Biên. Tỷ lệ nghèo đa chiều trên địa bàn toàn tỉnh là 30,83% với tổng số hộ là 44.289 hộ. Trong đó: Tỷ lệ hộ nghèo là 17,78% tương ứng 25.541 hộ; tỷ lệ hộ cận nghèo là 13,05% tương ứng 18.748 hộ.

Trong quý I năm 2026, theo số liệu Ngân hàng chính sách tỉnh Điện Biên đã thực hiện các chương trình cho vay đối với cho vay ưu đãi hộ nghèo (theo NĐ 78/2002); cho vay học sinh sinh viên (theo QĐ 157/2007); cho vay giải quyết việc làm (theo NĐ 61/2015); cho vay nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn (theo QĐ 62/2004); cho vay hộ gia đình sản xuất kinh doanh tại vùng khó khăn (theo QĐ 31/2007) tổng số 4.106 lượt khách hàng vay vốn (giảm so với cùng kỳ năm trước 1.374 lượt) với tổng doanh số cho vay 224.299 triệu đồng. 

3. Giáo dục - Đào tạo

a) Quy mô trường, lớp, học sinh, sinh viên 

Năm học 2025-2026, (số liệu tính đến 31/01/2026) toàn tỉnh hiện có 486 trường, trung tâm. Trong đó: Giáo dục mầm non 168 trường với 2.382 lớp/nhóm trẻ và 53.850 trẻ; Giáo dục tiểu học 139 trường với 2.800 lớp và 73.591 học sinh; Giáo dục THCS 123 trường (28 trường tiểu học và THCS, 95 trường THCS) với 1.533 lớp và 56.899 học sinh; Giáo dục THPT 33 trường (29 trường THPT, 04 trường THCS và THPT), với 563 lớp và 21.711 học sinh; có 04 trung tâm GDNN-GDTX khu vực với 56 lớp và 2.051 học viên.

Toàn tỉnh hiện có toàn tỉnh có 391/462 trường mầm non và phổ thông đã được công nhận đạt kiểm định chất lượng giáo dục (đạt tỷ lệ 85,06%) ; 382/462 trường mầm non và phổ thông đã được công nhận trường đạt chuẩn quốc gia (đạt  tỷ lệ 82,68%) .

Đến nay, toàn tỉnh đã có 10/15 xã biên giới được triển khai đầu tư xây dựng trường phổ thông nội trú liên cấp, với tổng mức đầu tư trên 2.124 tỷ đồng (trường phổ thông nội trú liên cấp Tiểu học và trung học sơ sở Si Pa Phìn, với tổng mức đầu tư hơn 228,5 tỷ đồng đã khánh thành ngày 31/01/2026). 

b) Tình hình giáo viên và cơ sở vật chất 

Năm học 2025-2026, toàn ngành Giáo dục và Đào tạo có tổng số 16.159 công chức, viên chức và người lao động, trong đó: 1.246 cán bộ quản lý; 12.664 giáo viên; 2.249 nhân viên.

Toàn tỉnh hiện có 7.486 phòng học (tăng 40 phòng học), tỷ lệ kiên cố 79,29%; 1.559 phòng học bộ môn (tỷ lệ kiên cố 78,19%); 3.846 phòng nội trú học sinh (tỷ lệ kiên cố 59,96%); 1.650 phòng công vụ giáo viên (tỷ lệ kiên cố 41,94%).

4. Y tế

a) Tình hình dịch bệnh và công tác phòng, chống dịch

Tình hình dịch bệnh: Tính từ ngày 01/01/2026 đến ngày 15/3/2026, trên địa bàn toàn tỉnh xảy ra 03 ổ dịch (02 ổ dịch sởi tại xã Chiềng sinh và xã Pu Nhi với 46 ca mắc và nghi mắc, không có ca tử vong; 01 ổ dịch thủy đậu với 29 ca mắc, không có ca tử vong tại các điểm trường xã Mường Luân). Số ổ dịch bằng cùng kỳ năm trước, số ca mắc và nghi ngờ giảm 482 ca và giảm 01 người tử vong so với cùng kỳ năm trước. Các ổ dịch trên đã được điều tra, xác minh, chẩn đoán và triển khai các biện pháp xử lý kịp thời.

Các bệnh truyền nhiễm gây dịch khác: Trong 3 tháng đầu năm 2026, hầu hết số ca mắc đều giảm so với cùng kỳ năm 2025. Tuy nhiên, một số bệnh có ca mắc tăng so với cùng kỳ năm 2025, như: Lỵ trực trùng, quai bị...

Công tác phòng chống dịch: Ngành y tế tiếp tục triển khai thực hiện nghiêm túc, chủ động, đồng bộ các biện pháp phòng chống dịch trên địa bàn theo kế hoạch phòng chống dịch bệnh truyền nhiễm ở người năm 2026 của Bộ Y tế và UBND tỉnh. Tăng cường giám sát các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm và các bệnh truyền nhiễm gây dịch khác, đặc biệt là các bệnh lây qua đường tiêu hóa và các dịch bệnh theo mùa. Chuẩn bị đủ thuốc, hóa chất, vật tư để chủ động đối phó với dịch, nhất là khi có tình huống khẩn cấp. Tăng cường công tác truyền thông bằng nhiều hình thức giúp cho người dân hiểu và chủ động tham gia phòng chống dịch bệnh.

b) Tình hình lây nhiễm HIV/AIDS 

Tình hình nhiễm HIV/AIDS trên địa bàn tỉnh, tính đến 28/02/2026, có 44/45 xã, phường có người nhiễm HIV. Luỹ tích toàn tỉnh có 7.883 ca nhiễm HIV, trong đó: có 0 ca mắc mới trong tháng; Số chuyển AIDS luỹ tích 5.440 ca (không có ca AIDS mắc mới); số tử vong lũy tích 4.248 ca, trong đó: tử vong mới trong tháng là 06 ca; số còn sống quản lý được 3.415 ca đạt 93,9% người nhiễm HIV trên địa bàn. Tỷ lệ nhiễm HIV còn sống/dân số 0,51%.

c) Tình hình vệ sinh an toàn thực phẩm 

Ngành Y tế chỉ đạo các đơn vị tăng cường công tác truyền thông, kiểm tra, giám sát vệ sinh an toàn thực phẩm tại các cơ sở sản xuất chế biến, kinh doanh thực phẩm và dịch vụ ăn uống, đặc biệt đặc biệt trong dịp tết Nguyên đán, Lễ hội Xuân, Lễ hội Hoa Anh Đào, Lễ hội Hoa Ban và các lễ hội khác của tỉnh. 

Hoạt động kiểm tra, giám sát an toàn thực phẩm: Thực hiện giám sát đối với 188 cơ sở thực phẩm trên địa bàn theo phân cấp quản lý. Trong đó, 185/188 cơ sở thực phẩm đạt yêu cầu (chiếm 98,4%); 03/188 cơ sở không đạt yêu cầu (chiếm 1,6%). Hình thức xử lý: Nhắc nhở, tuyên truyền các quy định của pháp luật về an toàn thực phẩm.

Tiếp tục thực hiện việc kiểm tra và cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm cho các cơ sở sản xuất, chế biến và kinh doanh thực phẩm đủ điều kiện trên địa bàn toàn tỉnh. Lũy tích cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện ATTP hoặc ký cam kết đảm bảo ATTP thuộc ngành Y tế quản lý trên địa bàn toàn tỉnh là 2.106/2.191 cơ sở (chiếm 96,1%). 

Trong quý I/2026 trên địa bàn tỉnh không ghi nhận các ca, vụ ngộ độc thực phẩm (cùng kỳ năm trước xảy ra 03 vụ ngộ độc thực phẩm với 21 ca mắc/02 ca tử vong).

5. Hoạt động văn hóa, thông tin, Thể dục thể thao và du lịch

a) Tổ chức Lễ hội Hoa Ban năm 2026

Tổ chức thành công Lễ hội Hoa Ban năm 2026 với nhiều hoạt động đặc sắc, đặc biệt là chương trình Khai mạc Lễ hội với chủ đề “Hoa Ban - Khát vọng Điện Biên” tại Sân vận động tỉnh được đầu tư quy mô hoành tráng với sự tham dự của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Lãnh đạo tỉnh và các nghệ sỹ, ca sỹ, diễn viên nổi tiếng đến từ các đơn vị nghệ thuật Trung ương và địa phương. Các hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch được tổ chức xuyên suốt trong các ngày diễn ra Lễ hội . Tổ chức trưng bày, triển lãm, giới thiệu, quảng bá các sản phẩm văn hoá, du lịch, sản phẩm OCOP, sản phẩm nông nghiệp tiêu biểu của tỉnh; góp phần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quảng bá, giới thiệu về con người, bản sắc văn hóa các dân tộc trong tỉnh, các di tích lịch sử, công trình văn hóa, cảnh quan thiên nhiên, danh lam thắng cảnh và các sản phẩm, điểm đến du lịch đặc trưng, gắn với vẻ đẹp hoa Ban của tỉnh Điện Biên... Đồng thời tạo được không khí vui tươi, phấn khởi cho đồng bào các dân tộc trên địa bàn tỉnh và để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp.

b) Hoạt động quản lý Nhà nước và văn hóa, văn nghệ

- Công tác tuyên truyền: Công tác tuyên truyền, cổ động các hoạt động, sự kiện của tỉnh, của đất nước được thực hiện tập trung ở khu vực trung tâm các xã, phường và ở các đơn vị cơ sở bằng nhiều hình thức phong phú. Trong đó: Trung tâm Văn hóa, Điện ảnh thực hiện căng treo 4.700 biển hiệu, pa nô, cụm cổ động tuyên truyền, tranh tuyên truyền,...; đội tuyên truyền lưu động thực hiện 36 buổi tuyên truyền phục vụ 31,44 nghìn lượt người; sáng tác 03 tranh mẫu, xuất bản 2 số văn hóa, thể thao, du lịch; dựng 15 video, clip tuyên truyền. 

- Hoạt động văn nghệ quần chúng: Trung tâm Văn hóa, Điện ảnh chủ trì tổ chức 21 hoạt động văn hóa, văn nghệ; tổ chức 05 hoạt động văn hóa, văn nghệ tại sân Hành lễ tượng đài Chiến thắng Điện Biên Phủ. Tại cơ sở, các hoạt động văn nghệ quần chúng tiếp tục được tăng cường, mở rộng đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hoá của Nhân dân.

- Hoạt động nghệ thuật chuyên nghiệp: Đoàn Nghệ thuật dân tộc tỉnh tổ chức dàn dựng, tập luyện 02 chương trình nghệ thuật và biểu diễn 36 chương trình phục vụ nhiệm vụ chính trị của tỉnh, đạt 28% Kế hoạch năm 2026, phục vụ 78 nghìn lượt người xem. Tiêu biểu là Chương trình nghệ thuật chào đón Xuân Bính Ngọ 2026, Chương trình nghệ thuật Khai mạc Lễ hội Hoa Ban 2026;... đặc biệt các chương trình nghệ thuật được nối dài bằng chương trình ca nhạc có các tiết mục văn nghệ sôi động với sự tham gia biểu diễn của các ca sĩ trẻ của Trung ương và địa phương đáp ứng nhu cầu thưởng thức văn hoá, văn nghệ của đông đảo công chúng, nhất là giới trẻ.

- Hoạt động phát hành phim và chiếu bóng: Thực hiện lồng tiếng 01 bộ phim bằng 02 thứ tiếng dân tộc Thái, Mông; tổ chức 192 buổi chiếu bóng vùng cao phục vụ 29,76 nghìn lượt người xem, đạt 27% kế hoạch. Tổ chức 05 quầy sách lưu động phục vụ nhiệm vụ chính trị; duy trì 01 quầy sách để trưng bầy, giới thiệu các xuất bản phẩm, văn hoá phẩm phục vụ Nhân dân và du khách.

- Hoạt động hệ thống Thư viện: Hệ thống thư viện nhập bổ sung 4.289 bản sách nâng số sách có đến cuối kỳ báo cáo là 193.960 bản, đạt 98% kế hoạch năm; thực hiện cấp và đổi 1.223 thẻ cho bạn đọc, đạt 23% kế hoạch; có trên 121 nghìn lượt tài nguyên thông tin được phục vụ, đạt 23% kế hoạch năm.

- Hoạt động bảo tồn, bảo tàng và phát huy giá trị di sản văn hóa: Di sản văn hóa của các dân tộc tiếp tục được bảo tồn, phát huy giá trị, đặc biệt là phát huy giá trị di tích lịch sử Quốc gia đặc biệt Chiến trường Điện Biên Phủ trong phát triển kinh tế - xã hội. Quý I năm 2026, toàn tỉnh có 24 di sản văn hóa được đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, tăng 02 di sản so với cùng kỳ năm 2025, trong đó có 02 di sản văn hóa phi vật thể mới được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, 02 di sản được UNESCO ghi danh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại; có 35 di tích được xếp hạng (trong đó có 01 di tích quốc gia đặc biệt, 14 di tích cấp quốc gia, 20 di tích cấp tỉnh); có 41 nghệ nhân được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Nghệ nhân ưu tú trong lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể. Trong tháng 3, hai bảo tàng và Ban Quản lý Di tích dự ước phục vụ 43,03 nghìn lượt khách, trong đó có 661 lượt khách nước ngoài; quý I năm 2026 tổng số lượng khách phục vụ 107,84 nghìn lượt, đạt 24% kế hoạch; trong đó có gần 2,2 nghìn lượt khách nước ngoài, đạt 46,7% kế hoạch.

c) Hoạt động thể dục thể thao

Tổ chức thành công các môn thể thao trước Đại hội Thể dục thể thao tỉnh Điện Biên lần thứ XII năm 2026; các giải thi đấu thể thao cấp tỉnh, ngành; Lễ kỷ niệm 80 năm Ngày Thể thao Việt Nam.

- Phong trào TDTT quần chúng tiếp tục được duy trì và phát triển trên địa bàn tỉnh; Cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” tiếp tục nhận được sự tham gia hưởng ứng của Nhân dân. Toàn tỉnh có tỷ lệ số người tập luyện TDTT thường xuyên đạt 35,3% trên tổng số dân toàn tỉnh; tỷ lệ hộ gia đình thể thao đạt 24,3% trên tổng số hộ gia đình toàn tỉnh; có 465 Câu lạc bộ TDTT cơ sở; 100% số trường phổ thông thực hiện đầy đủ chương trình giáo dục thể chất nội khóa.

- Thể thao thành tích cao: Duy trì công tác huấn luyện, đào tạo 29 vận động viên thể thao thành tích cao, đạt 78,4% kế hoạch năm. Thành lập đoàn vận động viên, huấn luyện viên tham gia 02 giải thi đấu khu vực và toàn quốc .

d) Lĩnh vực du lịch

Tính chung quý I năm 2025, tỉnh Điện Biên đón 550.000 lượt khách du lịch, đạt 34,4% so với kế hoạch, tăng 1,29 lần so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó khách quốc tế đạt 3.943 lượt, đạt 26,3% so với kế hoạch; tổng thu từ khách du lịch đạt 997 tỷ đồng, đạt 34,6% so với kế hoạch, tăng 1,3 lần so với cùng kỳ.

6. Tai nạn giao thông, cháy nổ, vi phạm môi trường

a) Tai nạn giao thông

Từ 15/01/2026 đến 15/02/2026, trên địa bàn toàn tỉnh đã xảy ra 13 vụ tai nạn giao thông làm 03 người chết và 08 người bị thương. So cùng kỳ năm trước: Số vụ tai nạn tăng 8,33%; số người chết giảm 50%; số người bị thương giảm 33,33%; thiệt hại tài sản ước tính khoảng 352,5 triệu đồng. Lũy kế từ ngày 15/11/2025 đến ngày 14/02/2026 trên địa bàn tỉnh Điện Biên đã xảy 30 vụ tai nạn và va chạm giao thông, làm 13 người chết, 23 người bị thương. So cùng kỳ năm trước: Số vụ tai nạn bằng cùng kỳ; số người chết tăng 62,5%, số người bị thương giảm 28,13%. Nguyên nhân do người điều khiển sử dụng rượu bia điều khiển phương tiện tham gia giao thông; vi phạm tốc độ khi điều khiển phương tiện, người đi bộ sang đường sai quy định, vượt xe không đúng quy định...

b) Cháy nổ 

Từ 15/02/2026 đến 14/02/2026, trên địa bàn tỉnh không xảy ra vụ cháy nổ. Tính chung quý I/2026, trên địa bàn toàn tỉnh xảy ra 1 vụ cháy, không có thiệt hại về người, ước giá trị thiệt hại tài sản khoảng 95 triệu đồng; So với cùng kỳ năm trước vụ cháy giảm 87,5%; giá trị thiệt hại giảm 94,56%. Nguyên nhân gây ra cháy do sơ xuất trong quá trình sử dụng nguồn lửa và sự cố thiết bị điện.

c) Tình hình vi phạm môi trường

Trong tháng, các cơ quan chức năng đã phát hiện 23 vụ vi phạm môi trường và xử lý 24 vụ với tổng số tiền phạt 80,1 triệu đồng, gảm 69,75% so với tháng trước và giảm 51,1% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I/2026 đã phát hiện 95 vụ vi phạm môi trường và xử lý 87 vụ với tổng số tiền phạt là 448,30 triệu đồng, giảm 34,2% so với cùng kỳ năm trước. Các vụ vi phạm môi trường chủ yếu là phá rừng làm nương, tàng trữ, mua bán, chế biến lâm sản trái pháp luật. 

7. Tình hình thiệt hại do thiên tai

Trong tháng, trên địa bàn tỉnh xảy ra 02 vụ mưa to kèm giông lốc khiến 29 nhà bị ảnh hưởng (thiệt hại dưới 30%) với ước thiệt hại khoảng 240 triệu đồng. Quý I/2026, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 03 vụ thiên tai do mưa lớn làm 02 người bị thương, ước tổng thiệt hại khoảng 240 triệu đồng.

Tác giả bài viết: Thống kê tỉnh Điện Biên

Ghi rõ nguồn "Thống kê tỉnh Điện Biên" hoặc "https://thongkedienbien.nso.gov.vn" khi phát hành lại thông tin từ các nguồn này.

Tổng số điểm của bài viết là: 1 trong 1 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây