I. KINH TẾ
1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
Tháng Tư, thời tiết nắng nóng, khô hạn đã làm tiến độ gieo trồng một số cây hằng năm khác chậm hơn so với cùng kỳ năm trước. Công tác phòng, chống dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm được được kiểm soát. Công tác quản lý, bảo vệ và phòng, chống cháy rừng tiếp tục được tăng cường. Hoạt động nuôi trồng và khai thác thuỷ sản duy trì đà tăng trưởng khá.
a) Nông nghiệp
* Trồng trọt
Lúa đông xuân: Tính đến ngày 20/4/2026, toàn tỉnh gieo cấy được 9.814,2 ha, tăng 0,52% so với cùng kỳ năm trước, vượt 1,03% kế hoạch tỉnh giao. Tình hình phát triển của cây lúa trong tháng đang ở giai đoạn trổ bông và chắc xanh. Người dân đang tập trung cao độ cho công tác chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh hại (ốc bươu vàng, bệnh đạo ôn lá) để đảm bảo cho toàn bộ lúa gieo cấy được thu hoạch.
Các loại cây hằng năm khác: Diện tích gieo trồng toàn tỉnh cộng dồn tính đến thời điểm 20/4/2026 ước đạt 11.901,7 ha, giảm 15,46% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngô 4.696,75 ha, giảm 30,19%; khoai lang 255,36 ha, tăng 32,41%; đậu tương 62 ha, giảm 49,14%; lạc 314,04 ha, giảm 3,8%; rau các loại 2.545,82 ha, tăng 3%; đậu các loại 65,4 ha, giảm 0,08%; sắn 3.961,7 ha, giảm 5%.
Cây lâu năm: Người dân tiếp tục tập trung chăm sóc những diện tích hiện có, thực hiện phát cỏ, tỉa cành, bón phân để đảm bảo cho cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt; đồng thời thu hoạch sản phẩm trong kỳ phục vụ nhu cầu thị trường như vú sữa, chuối, dứa…
Tình hình sâu, bệnh hại trên cây trồng: Tổng diện tích nhiễm sinh vật gây hại trong tháng 3.486,55 ha , giảm 209,73 ha so cùng kỳ năm trước; diện tích phòng trừ 2.669,7 ha.
* Chăn nuôi
Trong tháng, tình hình chăn nuôi tương đối ổn định, công tác phòng, chống dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm được được kiểm soát.

Dự ước số đầu con và sản lượng thịt hơi xuất chuồng trong tháng và so với cùng kỳ năm trước: Trâu 910 con, tăng 3,41%; bò 1.098 con, tăng 2,81%; lợn 24.200 con, tăng 0,83%; thịt gia cầm 471,2 tấn, tăng 1,55%; trứng 7.498,81 nghìn quả, tăng 1,25%.

Tình hình thiệt hại do dịch bệnh : Trong tháng, còn xảy ra bệnh dịch tả lợn Châu Phi tại 11/45 xã, phường với tổng số lợn thiệt hại 445 con. Thực hiện tiêm phòng được 2.150 liều vắc xin phòng bệnh dại; kiểm dịch được 850 con lợn xuất ngoài tỉnh, 274 kg thịt trâu và 141 kg thịt lợn xuất Hà Nội; kiểm soát giết mổ 61 con trâu, bò và 648 con lợn.
b) Lâm nghiệp
Trong tháng, thời tiết hanh khô, nắng nóng kéo dài, lượng mưa ít, người dân đốt dọn thực bì làm nương, UBND tỉnh đã chỉ đạo tăng cường tập trung, thực hiện hiện nghiêm túc công tác quản lý, bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng trên địa bàn. Tháng 4/2026, dự ước khai thác được 575 m3 gỗ, tăng 1,91% so với thực hiện cùng kỳ năm trước; củi khai thác được 69.821 ste, tăng 2,06%. Tính chung bốn tháng đầu năm, sản lượng gỗ khai thác đạt 2.777 m3, tăng 0,42%; sản lượng củi khai thác đạt 271.166 ste, tăng 1,88%.
Diện tích rừng bị thiệt hại trong tháng là 14,31 ha rừng, tăng 64,77% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung bốn tháng đầu năm, có 25,88 ha rừng bị thiệt hại, giảm 64,29% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích rừng bị thiệt hại chủ yếu do phá rừng.
Trong tháng, toàn tỉnh xảy ra 74 vụ vi phạm luật Lâm nghiệp , tổng số tiền thu nộp ngân sách 210,4 triệu đồng, lâm sản tịch thu 12,85 m3.
c) Thủy sản
Nuôi trồng và khai thác thuỷ sản trên địa bàn tỉnh duy trì đà tăng trưởng khá, dự ước toàn tỉnh có 2.838,22 ha diện tích nuôi trồng thủy sản, tăng 3,27% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích nuôi cá 2.836,72 ha. Mô hình nuôi cá lồng bè trên địa bàn tỉnh tiếp tục được đầu tư với tổng thể tích 41.585 m³, mô hình nuôi cá hồi bằng bể bồn tại xã Quài Tở với thể tích 600 m3.
Sản lượng thủy sản tháng 4/2026 ước đạt 450,73 tấn, tăng 4,24% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: Nuôi trồng đạt 421,56 tấn, tăng 4,3%; khai thác đạt 29,17 tấn, tăng 3,37%. Tính chung bốn tháng đầu năm, sản lượng thủy sản ước đạt 1.780,05 tấn, tăng 3,82% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: Nuôi trồng đạt 1.672,73 tấn, tăng 3,86%; khai thác đạt 107,32 tấn, tăng 3,1%.
Sản lượng thủy sản nuôi trồng trong tháng ước đạt 421,56 tấn, tăng 4,3% so với thực hiện cùng kỳ năm trước, bao gồm: Cá đạt 416,23 tấn, tăng 4,3%; tôm đạt 1,21 tấn, tăng 4,31%; thủy sản khác đạt 4,12 tấn, tăng 4,3%. Tính chung bốn tháng đầu năm, sản lượng thủy sản ước đạt 1.672,73 tấn, tăng 3,86% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Cá đạt 1.650,67 tấn, tăng 3,86%; tôm đạt 4,47 tấn, tăng 3,95%; thủy sản khác đạt 17,59 tấn, tăng 4,45%.
Sản lượng thuỷ sản khai thác trong tháng ước đạt 29,17 tấn, tăng 3,37% so với thực hiện cùng kỳ năm trước, bao gồm: Cá đạt 22,85 tấn, tăng 3,3%; tôm đạt 1,88 tấn, tăng 1,62%; thủy sản khác 4,44 tấn, tăng 4,47%. Tính chung bốn tháng đầu năm, sản lượng thủy sản khai thác ước đạt 107,32 tấn, tăng 3,1% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Cá đạt 81,58 tấn, tăng 3,08%; tôm đạt 7,44 tấn, tăng 2,06%; thủy sản khác đạt 18,3 tấn, tăng 3,62%.
2. Sản xuất công nghiệp
Sản xuất công nghiệp tháng Tư năm 2026 trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực, hoạt động sản xuất diễn ra ổn định, nhiều ngành chủ lực phục hồi và mở rộng quy mô, IIP ước tăng 7,42% so với tháng trước, so với cùng kỳ năm trước tăng 18,43%; tính chung bốn tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 15,75% so với cùng kỳ năm trước.
Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng 4 năm 2026 ước tính tăng 7,42% so với tháng trước và tăng 18,43% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành khai khoáng tăng 13,66% và tăng 7,94%; ngành chế biến, chế tạo tăng 5,7% và tăng 24,43%; sản xuất và phân phối điện tăng 14,77% và tăng 5,75%, cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,38% và tăng 8,58%.
IIP tăng khá so với tháng trước và tăng mạnh so với cùng kỳ, nguyên nhân chủ yếu do số ngày sản xuất tăng, quy mô sản xuất được mở rộng, cùng với nhu cầu sử dụng vật liệu xây dựng trong các công trình trọng điểm, trường liên cấp tăng cao. Bên cạnh đó, một số doanh nghiệp sau thời gian tái cơ cấu đã hoạt động ổn định, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh; các nhà máy mới đi vào vận hành, đặc biệt trong lĩnh vực chế biến nông sản và vật liệu xây dựng, góp phần gia tăng sản lượng toàn ngành. Hoạt động xúc tiến thương mại, kết nối tiêu thụ sản phẩm được đẩy mạnh, giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường và duy trì đơn hàng ổn định. Ngoài ra, việc cải thiện môi trường đầu tư, cùng với các chính sách hỗ trợ sản xuất, khuyến khích tiêu dùng trong nước cũng góp phần thúc đẩy tăng trưởng sản xuất công nghiệp.

Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm tỷ trọng lớn và duy trì mức tăng trưởng cao, tiếp tục là động lực chính thúc đẩy tăng trưởng toàn ngành. Ngành sản xuất và phân phối điện chưa đạt kỳ vọng, chủ yếu do Nhà máy thủy điện Mường Mươn tạm ngừng hoạt động để sửa chữa đường ống áp lực, cùng với ảnh hưởng của thời tiết khô hạn làm lưu lượng nước giảm mạnh. Ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải duy trì hoạt động ổn định và đạt mức tăng trưởng khá. Việc đưa vào vận hành nhà máy nước của Công ty TNHH Quang Phúc đã góp phần khắc phục tình trạng thiếu nước sinh hoạt, nâng cao chất lượng đời sống người dân.
Tính chung bốn tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước tăng 15,75% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2025 tăng 9,41%). Trong đó, ngành khai khoáng tăng 8,36% (cùng kỳ năm 2025 tăng 20,7%); ngành chế biến, chế tạo tăng 19,1% (cùng kỳ năm 2025 tăng 6,39%); ngành sản xuất và phân phối điện tăng 8,32% (cùng kỳ năm 2025 tăng 21,86%); ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 9,67% (cùng kỳ năm 2025 giảm 1,08%).
Chỉ số sản xuất bốn tháng đầu năm 2026 của một số ngành công nghiệp cấp II tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc và thiết bị tăng 34,39%; sản xuất đồ uống tăng 32,39%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 21,36%; dệt tăng 19,43%; sản xuất trang phục tăng 19,05%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 16,74%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 16,27%; in, sao chép bản ghi các loại tăng 15,73%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 15,45%; sản xuất than cứng và than non tăng 10,94%...Ở chiều ngược lại công nghiệp chế biến, chế tạo khác giảm 14,55%.
Một số sản phẩm công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong bốn tháng đầu năm 2026 tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Nước không uống được tăng 24,82%; giường bằng gỗ các loại tăng 22,95%; cửa ra vào, cửa sổ bằng sắt, théo tăng 22,05%; thiết bị dung cho dàn giáo, ván khuôn, vật chống hoặc cột trụ chống hầm lò bằng sắt, thép, nhôm tăng 18,42%; xi măng Portland đen tăng 12,99%; than đá loại khác tăng 10,94%; dịch vụ thu gom rác thải không độc hại có thể tái chế tăng 1,29%; đá xây dựng khác tăng 10,01%. Ở chiều ngược lại, dịch vụ sản xuất đồ kim hoàn và chi tiết liên quan giảm 14,88%.

Nhìn chung, hoạt động sản xuất công nghiệp bốn tháng đầu năm 2026 trên địa bàn tỉnh duy trì xu hướng tăng trưởng tích cực và ước đạt mức cao nhất trong nhiều năm gần đây, cho thấy sự phục hồi rõ nét và mở rộng quy mô sản xuất. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vai trò động lực tăng trưởng chủ yếu nhờ các nhà máy chế biến đi vào vận hành ổn định, từng bước nâng cao năng lực sản xuất và hiệu quả hoạt động. Kết quả này phản ánh hiệu quả của các cơ chế, chính sách hỗ trợ, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất. Đồng thời, sự phát triển của công nghiệp chế biến đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao giá trị gia tăng cho nông sản địa phương, hình thành đầu ra ổn định, gắn kết sản xuất với thị trường và tạo việc làm bền vững cho lao động trên địa bàn.
Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 4/2026 tăng 0,62% so với tháng trước và tăng 18,13% so với tháng cùng kỳ năm trước, trong đó: Khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 0,27% và tăng 40,43%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 0,96% và tăng 2,31%. Tính chung bốn tháng đầu năm 2026, chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tăng 20,34% so với cùng kỳ năm trước (khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 43,26%, khu vực doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 3,74%).
3. Đầu tư
Trong tháng Tư, tranh thủ thời tiết khô ráo, các chủ đầu tư, nhà thầu đẩy nhanh tiến độ dự án và giải quyết dứt điểm các vấn đề tồn đọng, nhất là lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản. Vốn đầu tư phát triển trên địa bàn bốn tháng đầu năm 2026 ước đạt 4.805,59 tỷ đồng, tăng 6,05% so với cùng kỳ năm trước (trong đó: Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 981,88 tỷ đồng, tăng 33,34%).
Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý tháng 4/2026 ước đạt 267,89 tỷ đồng, tăng 9,77% so với tháng trước, tăng 32,85% so với cùng kỳ năm trước. Bao gồm: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 267,89 tỷ đồng (chiếm 100%), tăng 9,77%, tăng 37,53%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã không phát sinh .
Tính chung bốn tháng đầu năm, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 981,88 tỷ đồng, đạt 26,52% kế hoạch năm, tăng 33,34% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 981,88 tỷ đồng, tăng 37,96%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã không phát sinh.

Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Điện Biên tháng 4/2026 ước đạt 1.254,9 tỷ đồng, tăng 6,7% so với tháng trước, tăng 1,24% so với cùng kỳ năm trước. Bao gồm: Vốn Nhà nước trên địa bàn đạt 410,85 tỷ đồng, tăng 8,26%, giảm 13,28% (vốn Trung ương quản lý đạt 104,28 tỷ đồng, tăng 4,97%, giảm 55,47%; vốn địa phương quản lý đạt 306,57 tỷ đồng, tăng 9,42%, tăng 27,95%); vốn ngoài Nhà nước đạt 844,05 tỷ đồng, tăng 5,96%, tăng 10,22%.
Tính chung bốn tháng đầu năm, vốn đầu tư phát triển toàn xã hội ước đạt 4.805,59 tỷ đồng, tăng 6,05% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể: Vốn Nhà nước trên địa bàn đạt 1.561,15 tỷ đồng, giảm 13,26% (vốn Trung ương quản lý đạt 430,2 tỷ đồng, giảm 53,43%; vốn địa phương quản lý đạt 1.130,95 tỷ đồng, tăng 29,09%); vốn ngoài Nhà nước đạt 3.244,44 tỷ đồng, tăng 18,77%.
4. Thu, chi ngân sách Nhà nước
Thu ngân sách Nhà nước bốn tháng đầu năm 2026 ước giảm 20,33% so với cùng kỳ năm trước; chi ngân sách Nhà nước ước tăng 0,98% so với cùng kỳ năm trước, đảm bảo cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, các khoản chi lương, thưởng, phụ cấp và chính sách an sinh xã hội.
a) Thu ngân sách Nhà nước
Tổng thu ngân sách Nhà nước tháng 4/2026 ước đạt 142,63 tỷ đồng. Lũy kế bốn tháng đầu năm, ước đạt 631,97 tỷ đồng, giảm 20,33% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó:
- Thu nội địa tháng 4/2026 ước đạt 142,56 tỷ đồng; luỹ kế bốn tháng đầu năm, ước đạt 625,35 tỷ đồng (chiếm 98,95%), tăng 14,57% so với cùng kỳ năm trước.
- Thu cân đối hoạt động xuất nhập khẩu tháng 4/2026 ước đạt 0,078 tỷ đồng; luỹ kế bốn tháng đầu năm, ước đạt 4,43 tỷ đồng (chiếm 0,7%), tăng 129,09% so với cùng kỳ năm trước.
b) Chi ngân sách Nhà nước
Tổng chi ngân sách Nhà nước tháng 4/2026 ước đạt 1.638,16 tỷ đồng. Lũy kế bốn tháng đầu năm, ước đạt 6.488,88 tỷ đồng, tăng 0,98% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Chi đầu tư phát triển bốn tháng đầu năm đạt 2.612,07 tỷ đồng (chiếm 40,25%), tăng 25,6% so với cùng kỳ; chi thường xuyên đạt 3.876,81 tỷ đồng (chiếm 59,75%), giảm 10,71%.
5. Thương mại, dịch vụ, giá cả, vận tải
a) Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
Trong tháng, hoạt động thương mại và dịch vụ trên địa bàn tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực, đáp ứng tốt nhu cầu tiêu dùng. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 1,68% so với tháng trước và tăng 9,45% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung bốn tháng đầu năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 15,1% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả này cho thấy sức mua của thị trường tiếp tục được cải thiện, các hoạt động kinh doanh thương mại, dịch vụ diễn ra sôi động, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế chung của địa phương.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 4/2026 ước tính đạt 2.641,24 tỷ đồng, tăng 1,68% so với tháng trước, tăng 9,45% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung bốn tháng đầu năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 10.935,23 tỷ đồng, tăng 15,1% so với cùng kỳ năm trước.

* Bán lẻ hàng hoá
Tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 4 năm 2026 ước đạt 1.942,82 tỷ đồng, tăng 2,84% so với tháng trước và tăng 9,23% so với cùng kỳ năm trước. Mức tăng này cho thấy hoạt động thương mại tiếp tục duy trì đà phục hồi, sức mua của người dân có xu hướng cải thiện.
Xét theo từng nhóm hàng, phần lớn các nhóm đều ghi nhận mức tăng so với tháng trước. Nhóm lương thực, thực phẩm tăng 3,64%, phản ánh nhu cầu tiêu dùng thiết yếu ổn định; hàng may mặc tăng 3,73%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 1,03%, mức tăng chưa cao nhưng vẫn duy trì xu hướng tích cực. Một số nhóm có mức tăng khá như: vật phẩm văn hóa, giáo dục tăng 2,29%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 2,91%; xăng, dầu các loại tăng 2,78%; phương tiện đi lại (trừ ô tô) tăng 2,12%; doanh thu dịch vụ sửa chữa xe có động cơ tăng 2,73%, cho thấy nhu cầu sử dụng và bảo dưỡng phương tiện tiếp tục gia tăng. Bên cạnh đó, một số nhóm tăng nhẹ như nhiên liệu khác tăng 2,14%; đá quý, kim loại quý tăng 0,46% và hàng hóa khác tăng 1,78%. Riêng nhóm ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) tăng 0,91%, phản ánh thị trường tiêu thụ ô tô vẫn duy trì nhưng chưa có sự bứt phá.
So với cùng kỳ năm trước, hầu hết các nhóm hàng đều tăng, trong đó một số nhóm hàng tăng cao như phương tiện đi lại tăng 20,58%; xăng, dầu các loại tăng 19,51% và dịch vụ sửa chữa xe có động cơ tăng 22,55%, phản ánh nhu cầu đi lại và vận tải tăng. Nhóm vật phẩm văn hóa, giáo dục tăng mạnh tăng 27,11%, cho thấy nhu cầu tiêu dùng phục vụ học tập, sinh hoạt được cải thiện. Tuy nhiên, nhóm lương thực, thực phẩm tăng thấp với 0,17%, cho thấy tiêu dùng thiết yếu ổn định. Nhìn chung, cơ cấu tiêu dùng có xu hướng chuyển dịch sang các nhóm hàng giá trị cao và dịch vụ, điều này góp phần thúc đẩy tổng mức bán lẻ 4 tháng tăng 15,79%, tạo nền tảng cho tăng trưởng thương mại cả năm.
* Dịch vụ lưu trú và ăn uống
Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng 4 năm 2026 ước đạt 245,29 tỷ đồng, tăng 1,15% so với tháng trước và tăng 16,54% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Dịch vụ lưu trú đạt 25 tỷ đồng, tăng 1,58% và tăng 23,72%; dịch vụ ăn uống đạt 220,29 tỷ đồng, tăng 1,1% và tăng 15,78%. Tính chung bốn tháng đầu năm 2026 đạt 992,1 tỷ đồng, tăng 17,9% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Dịch vụ lưu trú đạt 106,12 tỷ đồng, tăng 33,73%; dịch vụ ăn uống đạt 885,99 tỷ đồng, tăng 16,26%.
Doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng khá chủ yếu nhờ hoạt động du lịch trên địa bàn tiếp tục khởi sắc, đặc biệt từ tháng cao điểm tham quan, lễ hội, đã thu hút lượng lớn du khách. Hạ tầng du lịch và cơ sở lưu trú được đầu tư, nâng cấp giúp nâng cao chất lượng phục vụ và kéo dài thời gian lưu trú. Thu nhập và mức sống người dân cải thiện làm gia tăng nhu cầu chi tiêu cho ăn uống, nghỉ dưỡng. Bên cạnh đó, các chương trình quảng bá, kích cầu du lịch phát huy hiệu quả, cùng với giao thông thuận lợi hơn đã góp phần thu hút khách đến địa phương. Ngoài ra, giá dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng nhẹ làm doanh thu theo giá hiện hành tăng lên.
* Dịch vụ khác
Doanh thu một số ngành dịch vụ khác tháng 4/2026 ước tính đạt 452,61 tỷ đồng, giảm 2,78% so với tháng trước, tăng 6,8% so với cùng kỳ năm trước, doanh thu một số ngành dịch vụ khác tháng 4/2026 giảm nhẹ so với tháng trước chủ yếu do sau cao điểm lễ hội, nhu cầu tiêu dùng dịch vụ có xu hướng chững lại. Tuy nhiên, so với cùng kỳ năm trước vẫn tăng khá nhờ kinh tế phục hồi, hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định kéo theo nhu cầu sử dụng dịch vụ tăng. Một số lĩnh vực như vận tải, hỗ trợ kinh doanh, vui chơi giải trí tiếp tục duy trì đà tăng trưởng. Thu nhập người dân cải thiện cũng góp phần thúc đẩy chi tiêu cho các dịch vụ ngoài thiết yếu.
Tính chung bốn tháng đầu năm 2026 đạt 1.812,83 tỷ đồng, tăng 10,68% so với cùng kỳ năm trước, cho thấy khu vực dịch vụ khác đang phục hồi tích cực và đóng góp vào tăng trưởng chung của nền kinh tế.

b) Hoạt động xuất - nhập khẩu
Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa tháng 4/2026 ước đạt 15,53 triệu USD, tăng 5,43% so thực hiện tháng trước và tăng 44,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó:
Kim ngạch xuất khẩu ước đạt 9,29 triệu USD, tăng 2,43% so thực hiện tháng trước và tăng 9,17% so với cùng kỳ năm trước. Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là vật liệu xây dựng, hàng nông sản, hàng bách hóa tổng hợp.
Kim ngạch nhập khẩu ước đạt 6,24 triệu USD, tăng 10,25% so thực hiện tháng trước và tăng 176,11% so với cùng kỳ năm trước. Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất, thi công các công trình và một số mặt hàng nông, lâm sản (thóc, gỗ).
Tính chung bốn tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng ước đạt 55,93 triệu USD, tăng 27,14% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Kim ngạch xuất khẩu ước đạt 34,84 triệu USD, tăng 3,4,47; kim ngạch nhập khẩu ước đạt 21,09 triệu USD, tăng 98,21%.
c) Chỉ số giá
* Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
Diễn biến giá cả tháng 4 năm 2026 chịu tác động tổng hợp của nhiều yếu tố, trong đó nổi bật là giá nhóm nhà ở, vật liệu xây dựng, thiết bị gia đình và dịch vụ ăn uống tăng theo nhu cầu và chi phí đầu vào; ngược lại, giá xăng dầu giảm góp phần kiềm chế đà tăng của chỉ số giá. Nhìn chung, mặt bằng giá biến động không lớn và có sự phân hóa giữa các nhóm hàng hóa và dịch vụ. Tác động tổng hợp của các yếu tố trên đã làm CPI tháng 4 năm 2026 tăng 0,48% so với tháng trước, tăng 4,99% so với cùng kỳ năm trước và tăng 8,02% so với kỳ gốc năm 2024. Bình quân bốn tháng đầu năm 2026, CPI tăng 3,7% so với cùng kỳ năm trước.
Trong mức tăng 0,48% của CPI tháng 4/2026 so với tháng trước, có 7 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng, 4 nhóm hàng hoá có chỉ số giá giảm, cho thấy xu hướng biến động đan xen nhưng mặt bằng giá nhìn chung ổn định.
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 4/2026 tăng chủ yếu do nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 2,51% và thiết bị, đồ dùng gia đình tăng 2,55% do nhu cầu xây dựng, tiêu dùng tăng và chi phí đầu vào tăng. Bên cạnh đó, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,37% (ăn uống ngoài gia đình tăng 2,73%), phản ánh nhu cầu dịch vụ dần phục hồi; các nhóm như đồ uống và thuốc lá, thông tin và truyền thông tăng nhẹ, góp phần làm CPI tăng nhưng không lớn.
Ở chiều ngược lại, một số nhóm góp phần kiềm chế CPI như giao thông giảm 1,28%, do giá xăng dầu trong nước điều chỉnh giảm theo diễn biến thị trường thế giới; cùng với đó là hàng hóa và dịch vụ khác, văn hóa, giải trí và du lịch, may mặc và y tế đều giảm hoặc ổn định, cho thấy sức cầu ở một số lĩnh vực chưa cao. Diễn biến này cho thấy áp lực lạm phát trong tháng không lớn, chủ yếu mang tính cục bộ ở một số nhóm hàng thiết yếu liên quan đến chi phí đầu vào và nhu cầu mùa vụ.
CPI bình quân bốn tháng đầu năm 2026 tăng 3,7% so với bình quân cùng kỳ năm trước, trong đó một số nhóm có mức tăng khá như đồ uống và thuốc lá tăng 5,44%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,82% (trong đó thực phẩm tăng 5,01%, ăn uống ngoài gia đình tăng 5,37%), phản ánh nhu cầu tiêu dùng thiết yếu và dịch vụ ăn uống vẫn ở mức cao. Bên cạnh đó, giáo dục tăng 10,39% (dịch vụ giáo dục tăng tới 15,04%) là yếu tố tác động mạnh nhất làm tăng CPI; cùng với thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 3,69% và nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,57%, góp phần làm gia tăng chi phí sinh hoạt. Một số nhóm có mức tăng thấp như thông tin và truyền thông chỉ tăng 0,22%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,8%, cho thấy sức cầu ở một số lĩnh vực chưa thực sự mạnh. Nhóm giao thông tăng 3,93%, nhưng không lớn do giá xăng dầu biến động đan xen trong kỳ, trong khi nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,07% góp phần kiềm chế mức tăng chung.

* Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ
Chỉ số giá vàng tháng 4/2026 giảm 4,76% so với tháng trước, tăng 59,35% so với cùng kỳ năm trước, tăng 11% so với tháng 12 năm trước và tăng 118,16% so với kỳ gốc 2024. Bình quân bốn tháng đầu năm 2026 tăng 83,39% so với cùng kỳ năm trước.
Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 4/2026 tăng 0,17% so với tháng trước, tăng 1,5% so với cùng kỳ năm trước, giảm 0,18% so với tháng 12 năm trước và tăng 6,27% so với kỳ gốc 2024. Bình quân bốn tháng đầu năm 2026 tăng 2,47% so với cùng kỳ năm trước.
d) Hoạt động Vận tải
Trong tháng Tư, hoạt động vận tải trên địa bàn tỉnh Điện Biên diễn ra sôi động do nhu cầu đi lại và du lịch tăng cao; nguyên nhân chủ yếu là trong tháng có nhiều lễ hội truyền thống và kỳ nghỉ lễ kéo dài, thu hút đông đảo người dân và du khách tham gia. So với cùng kỳ năm trước, vận chuyển hành khách tăng 28,41% và luân chuyển hành khách tăng 37,23%; vận chuyển hàng hóa tăng 19,1% và luân chuyển hàng hóa tăng 18,22%.
Tính chung bốn tháng đầu năm, vận chuyển hành khách tăng 27,42% so với cùng kỳ năm trước, luân chuyển hành khách tăng 33,02%; vận chuyển hàng hóa tăng 14,81%, luân chuyển hàng hóa tăng 14,99%.
Tổng doanh thu của hoạt động vận tải, kho bãi ước thực hiện tháng 4/2026 đạt 172,27 tỷ đồng, tăng 1,46% so với tháng trước và tăng 20,61% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung bốn tháng đầu năm, doanh thu ước đạt 666,54 tỷ đồng, tăng 17,58% so cùng kỳ năm trước. Bao gồm: Doanh thu vận tải hành khách ước đạt 140,35 tỷ đồng, tăng 28,84%; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 519,77 tỷ đồng, tăng 14,99%; doanh thu hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 5,22 tỷ đồng, tăng 7,51%; bưu chính chuyển phát ước đạt 1,21 tỷ đồng, tăng 11,95%.

Vận tải hành khách tháng 4/2026 ước đạt 363,6 nghìn hành khách, tăng 1,28% so với tháng trước, tăng 28,41% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển 41,31 triệu lượt HK.km, tăng 0,98% so với tháng trước, tăng 37,23% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung bốn tháng đầu năm, vận tải hành khách ước đạt 1.389,66 nghìn hành khách vận chuyển, tăng 27,42% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển 157,928 triệu lượt HK.km, tăng 33,02%.

Vận tải hàng hóa tháng 4/2026 ước đạt 805,31 nghìn tấn, tăng 1,5% so với tháng trước, tăng 19,1% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển 39,82 triệu tấn.km, tăng 1,52% so với tháng trước, tăng 18,22% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung bốn tháng đầu năm, vận tải hàng hóa đạt 3.133,59 nghìn tấn, tăng 14,81% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển 154,68 triệu tấn.km, tăng 14,99% so với cùng kỳ năm trước.
II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI
1. Tình hình đời sống dân cư
Đời sống các tầng lớp dân cư trên địa bàn tỉnh Điện Biên trong tháng Tư năm 2026 cơ bản ổn định, không có biến động lớn. Thu nhập và việc làm của người dân được duy trì, các hoạt động sản xuất, kinh doanh tiếp tục phát triển, góp phần cải thiện đời sống. Nhờ lợi thế về hệ thống di tích lịch sử và cảnh quan du lịch, cùng với các kỳ nghỉ lễ dài ngày như Giỗ Tổ Hùng Vương (10/3 âm lịch), Ngày Giải phóng miền Nam (30/4), lượng khách du lịch đến địa bàn tỉnh tăng khá. Hoạt động du lịch sôi động đã tạo động lực thúc đẩy các ngành dịch vụ lưu trú, ăn uống, vận tải và thương mại phát triển. Bên cạnh đó, lưu thông hàng hóa, đặc biệt là nông sản và sản phẩm OCOP giữa các địa phương diễn ra thuận lợi, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân. Công tác an sinh xã hội tiếp tục được quan tâm thực hiện đầy đủ, kịp thời. Các chính sách hỗ trợ người dân, nhất là đối tượng yếu thế, được triển khai hiệu quả. Tình hình giá cả thị trường nhìn chung ổn định, nguồn cung hàng hóa thiết yếu được đảm bảo. Công tác y tế, giáo dục và chăm sóc sức khỏe cộng đồng được duy trì. Trong tháng, tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh được giữ vững.
2. Y tế
a) Tình hình dịch bệnh và công tác phòng, chống dịch
Tình hình dịch bệnh: Trong tháng, trên địa bàn tỉnh ghi nhận 03 ổ dịch với 43 ca mắc, không có tử vong. Trong đó: 02 ổ dịch sởi với 25 ca mắc/0 ca tử vong (tại xã Mường Luân với 18 ca mắc/0 tử vong và tại xã Xa Dung với 07 ca mắc/0 tử vong); 01 ổ dịch Thủy đậu tại bản Háng Trợ, xã Pu Nhi với 18 ca mắc/0 tử vong.
Các bệnh truyền nhiễm gây dịch khác: Trong tháng, tình hình sốt rét và sốt xuất huyết trên địa bàn toàn tỉnh ổn định, không có bệnh nhân mắc sốt rét và sốt xuất huyết.
Công tác phòng chống dịch: Ngành Y tế tiếp tục triển khai thực hiện nghiêm túc, chủ động, đồng bộ các biện pháp phòng chống dịch trên địa bàn theo kế hoạch phòng chống dịch bệnh truyền nhiễm ở người năm 2026 của Bộ Y tế và UBND tỉnh. Duy trì hoạt động của đội cơ động chống dịch, chuẩn bị đủ thuốc, hóa chất, vật tư để chủ động đối phó với dịch, nhất là khi có tình huống khẩn cấp. Tăng cường công tác truyền thông bằng nhiều hình thức giúp cho người dân hiểu và chủ động tham gia phòng chống dịch bệnh.
b) Tình hình lây nhiễm HIV/AIDS
Tình hình nhiễm HIV/AIDS, tính đến 31/3/2026, có 44/45 xã, phường có người nhiễm HIV. Luỹ tích toàn tỉnh có 7.894 ca nhiễm HIV, trong đó: có 10 ca mắc mới trong tháng; số chuyển AIDS luỹ tích 5.440 ca (không có ca AIDS mắc mới); số tử vong lũy tích 4.258 ca, trong đó: tử vong mới trong tháng là 10 ca; số còn sống quản lý được 3.418 ca đạt 94% người nhiễm HIV trên địa bàn. Tỷ lệ nhiễm HIV còn sống/dân số 0,51%.
c) Tình hình vệ sinh an toàn thực phẩm
Ngành Y tế chỉ đạo các đơn vị tăng cường công tác truyền thông, kiểm tra, giám sát ATTP tại các cơ sở sản xuất chế biến thực phẩm, kinh doanh dịch vụ ăn uống trên địa bàn toàn tỉnh; tăng cường công tác quản lý ATTP, ngăn ngừa thực phẩm giả.
Hoạt động kiểm tra, giám sát an toàn thực phẩm: Tuyến tỉnh và tuyến xã, phường thực hiện giám sát đối với 95 cơ sở thực phẩm trên địa bàn theo phân cấp quản lý, 100% cơ sở thực phẩm đạt yêu cầu.
Tiếp tục thực hiện việc thẩm định và cấp giấy Chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm cho các cơ sở sản xuất, chế biến và kinh doanh thực phẩm, dịch vụ ăn uống trên địa bàn theo phân cấp ngành Y tế quản lý. Trong tháng, đã thực hiện tiếp nhận và cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện ATTP đối với 06 cơ sở; tuyến xã, phường, tiếp nhận 10 bản cam kết đảm bảo ATTP. Lũy tích cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện ATTP hoặc ký cam kết đảm bảo ATTP thuộc ngành Y tế quản lý trên địa bàn toàn tỉnh là 2.055/2.131(chiếm 96,43%).
Trong tháng, trên địa bàn tỉnh không xảy ra các ca, vụ ngộ độc thực phẩm.
3. Giáo dục và đào tạo
Trong tháng, Sở Giáo dục và Đào tạo tiếp tục duy trì và thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm đã đặt ra cho toàn ngành giáo dục.
Giáo dục mầm non - tiểu học: Nâng cao các chỉ số đạt chuẩn PCGDMN; xây dựng, thực hiện lộ trình phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 3-5 tuổi theo kế hoạch, hướng dẫn của Bộ GDĐT. Chỉ đạo thực hiện nghiêm túc chương trình giáo dục mầm non, nâng cao chất lượng thực hiện các chuyên đề chuyên môn chuyên sâu: Đề án “Tăng cường tiếng Việt cho trẻ em mầm non và học sinh tiểu học vùng dân tộc thiểu số”; nâng cao chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ, nhất là trẻ em vùng đặc biệt khó khăn, điểm trường lẻ; chú trọng đảm bảo an toàn, phòng chống dịch bệnh cho trẻ; nâng cao chất lượng giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật và học sinh có hoàn cảnh khó khăn. Chỉ đạo thực hiện các giải pháp giúp học sinh hoàn thành yêu cầu cần đạt các môn học và hoạt động giáo dục cấp Tiểu học trong Chương trình GDPT 2018; hướng dẫn các cơ sở giáo dục xây dựng môi trường học tập sáng tạo và tổ chức tiết dạy sáng tạo ở trường Tiểu học.
Giáo dục phổ thông: Tập trung đổi mới phương pháp dạy học các môn học theo định hướng phát triển năng lực học sinh, tích cực ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy, tăng cường thời gian cho học sinh thực hành, vận dụng và trải nghiệm sáng tạo; chỉ đạo thực hiện Kế hoạch dạy học, ôn tập, ôn thi tốt nghiệp THCS, THPT năm 2026, thi tuyển sinh vào lớp 10 đạt chất lượng, hiệu quả, tăng điểm trung bình các môn thi và tỷ lệ tốt nghiệp THPT.
Quản lý đào tạo: Đẩy mạnh hội nhập quốc tế trong giáo dục theo tinh thần Nghị quyết 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới. Trong đó tập trung mở rộng liên kết đào tạo với cơ sở trong và ngoài nước để phát triển nguồn nhân lực cao; tăng cường hợp tác đào tạo với các tỉnh Bắc Lào, Vân Nam (Trung Quốc), Bắc Thái Lan giai đoạn 2025-2030, định hướng 2035; đẩy mạnh kết nối, thiết lập quan hệ hợp tác với một số địa phương nước ngoài.
4. Văn hoá, thể thao và du lịch
a) Lĩnh vực văn hóa, gia đình
Hoạt động tuyên truyền cổ động: Tổ chức tốt các hoạt động tuyên truyền cổ động trực quan bằng các hình thức như xây dựng các cụm pano, pano, băng zôn, khẩu hiệu, trên hệ thống loa phát thanh và xe thông tin lưu động. Thực hiện các hoạt động tuyên truyền chào mừng các ngày lễ, kỷ niệm của đất nước, của tỉnh; tuyên truyền cổ động mặt đường; tuyên truyền phục vụ vùng biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số…
Các hoạt động trưng bày, triển lãm: Tổ chức triển lãm ảnh tại Lễ hội Đền Hoàng Công Chất tại xã Thanh An; tham gia triển lãm kỷ niệm “80 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến” trong khuôn khổ Lễ hội Làng Sen năm 2026 và kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 – 19/5/2026) tại tỉnh Nghệ An.
Trung tâm văn hóa, điện ảnh: Tổ chức chiếu phim vùng cao với 64 buổi.
Hoạt động thư viện: Tổ chức thành công các hoạt động chào mừng Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam lần thứ Năm, năm 2026; cuộc thi Đại sứ Văn hóa đọc tỉnh Điện Biên năm 2026; thực hiện phục vụ thư viện lưu động tại các trường tiểu học, trung học cơ sở trên địa bàn các xã Na Sang, Pa Ham; thực hiện trưng bày, triển lãm giới thiệu sách, tài liệu kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026).
Hoạt động phát huy giá trị di sản văn hóa: Dự ước trong tháng 4/2026, hai bảo tàng và các điểm di tích đón 44.964 lượt khách đến tham quan, trong đó có 799 lượt khách nước ngoài. Lũy kế bốn tháng đầu năm 2026, đón 152.506 lượt khách đến tham quan, đạt 24% kế hoạch năm; trong đó có 2.995 lượt khách nước ngoài, đạt 46,7% kế hoạch năm.
b) Lĩnh vực thể dục thể thao
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức Lễ phát động Tháng hoạt động TDTT cho mọi người và Ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân năm 2026 trên địa bàn tỉnh.
Phong trào thể dục thể thao quần chúng: Tiếp tục được duy trì và phát triển trên địa bàn tỉnh. Trong tháng, duy trì tỷ lệ số người tham gia luyện tập thường xuyên ít nhất 01 môn thể thao là 34,54% tổng số dân trong tỉnh; tỷ lệ số gia đình thể thao là 24,4%, có 467 câu lạc bộ thể thao cơ sở trong toàn tỉnh.
Về thể thao thành tích cao và thể thao chuyên nghiệp: Thành lập các đoàn tham gia thi đấu các giải thể thao (bao gồm: Cúp Khiêu vũ thể thao toàn quốc năm 2026 tại Điện Biên; giải vô địch Điền kinh trẻ U18 quốc gia tại tỉnh Thái Nguyên; giải Cầu lông Cúp các câu lạc bộ quốc gia tại tỉnh Thái Nguyên). Ban hành Kế hoạch tập huấn, tham gia các giải thể thao khu vực và toàn quốc.
c) Lĩnh vực du lịch
Tháng 4/2026, tỉnh Điện Biên đón 155.000 lượt khách du lịch, trong đó 1.200 lượt khách du lịch quốc tế; tổng thu từ khách du lịch đạt 280 tỷ đồng.
Dự ước bốn tháng đầu năm, tỉnh Điện Biên đón 705.000 lượt khách du lịch (đạt 44,1% so với kế hoạch, tăng 119,82% so với cùng kỳ), trong đó khách quốc tế đạt 5.498 lượt (đạt 36,7% so với kế hoạch); tổng thu từ khách du lịch đạt 1.277 tỷ đồng (đạt 44,3% so với kế hoạch, tăng 120,02% so với cùng kỳ).
5. Tai nạn giao thông, cháy nổ, vi phạm môi trường
a) Tai nạn giao thông
Từ 15/02/2026 đến 14/3/2026, trên địa bàn toàn tỉnh đã xảy ra 05 vụ tai nạn giao thông làm 03 người chết và 04 người bị thương. So cùng kỳ năm trước: Số vụ tai nạn tăng 25%; số người chết tăng 200%; số người bị thương bằng năm trước. Thiệt hại ước tính khoảng 71 triệu đồng.
Lũy kế từ ngày 15/11/2025 đến ngày 14/3/2026, trên địa bàn tỉnh Điện Biên đã xảy 35 vụ tai nạn và va chạm giao thông, làm 16 người chết, 27 người bị thương. So cùng kỳ năm trước: Số vụ tai nạn tăng 2,94%; số người chết tăng 77,78%, số người bị thương giảm 25%. Nguyên nhân tai nạn chủ yếu do vi phạm tốc độ khi điều khiển phương tiện, người đi bộ sang đường sai quy định, vượt xe không đúng quy định, đi sai làn đường, phần đường; vi phạm về nồng độ cồn.
b) Cháy nổ
Từ 15/02/2026 đến 14/3/2026, trên địa bàn tỉnh xảy ra 01 vụ cháy xưởng sữa chữa máy xúc tại phường Mường Thanh, không có thiệt hại về người, ước thiệt hại khoảng 90 triệu đồng; nguyên nhân gây ra là do sự cố thiết bị điện. Lũy kế từ 15/11/2025 đến 14/3/2026, trên địa bàn toàn tỉnh xảy ra 02 vụ cháy, giảm 80% so cũng kỳ năm trước, không có thiệt hại về người, ước thiệt hại khoảng 185 triệu đồng.
c) Vi phạm môi trường
Trong tháng, các cơ quan chức năng đã phát hiện 85 vụ vi phạm môi trường và xử lý 80 vụ với tổng số tiền phạt 256,4 triệu đồng; so với tháng trước số vụ vi phạm tăng 269,57%; số vụ đã được xử lý tăng 233,33%; tổng số tiền xử phạt tăng 220,1%.
Tính chung bốn tháng đầu năm, đã phát hiện 180 vụ vi phạm môi trường và xử lý 167 vụ với tổng số tiền phạt là 704,7 triệu đồng; số vụ vi phạm giảm 28,57%; số vụ đã được xử lý giảm 25,45%; tổng số tiền xử phạt giảm 19,93% so với cùng kỳ năm trước. Các vụ vi phạm môi trường chủ yếu là phá rừng làm nương, tàng trữ, mua bán, chế biến lâm sản trái pháp luật.
6. Thiệt hại do thiên tai
Trong tháng, trên địa bàn tỉnh xảy ra 02 vụ mưa to kèm giông lốc khiến 82 nhà bị ảnh hưởng (thiệt hại dưới 30%) và một số thiệt hại khác, không gây thiệt hại về người, ước thiệt hại khoảng 1.112,5 triệu đồng.
Lũy kế từ đầu năm, do ảnh hưởng của gió lốc và mưa lớn đã xảy ra xảy ra 05 vụ thiên tai trên địa bàn tỉnh Điện Biên. Gây ra thiệt hại về người (02 người bị thương nhẹ), 111 ngôi nhà bị ảnh hưởng (thiệt hại dưới 30%), ước tổng thiệt hại khoảng 1.352,5 triệu đồng.
Tác giả bài viết: Thống kê tỉnh Điện Biên
Ghi rõ nguồn "Thống kê tỉnh Điện Biên" hoặc "https://thongkedienbien.nso.gov.vn" khi phát hành lại thông tin từ các nguồn này.
Ý kiến bạn đọc
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn