TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH ĐIỆN BIÊN THÁNG 10 NĂM 2025

Chủ nhật - 02/11/2025 10:21

I. KINH TẾ

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

Tháng Mười, sản xuất nông nghiệp tập trung vào việc thu hoạch lúa mùa và gieo trồng một số cây hàng năm khác vụ đông; chăn nuôi gia súc, gia cầm phát triển tương đối ổn định, dịch bệnh cơ bản được kiểm soát tốt; sản xuất lâm nghiệp chủ yếu tập trung vào công tác quản lý, bảo vệ rừng; hoạt động nuôi trồng, khai thác thủy sản tiếp tục được duy trì.

a) Nông nghiệp

* Trồng trọt

Lúa Mùa: Tính đến ngày 20/10/2025, toàn tỉnh đã thu hoạch được 22.621,09 ha, giảm 20,65%  so với cùng kỳ năm trước.

Một số cây hàng năm khác: Trong tháng, cùng với việc thu hoạch lúa và các loại cây hàng năm vụ mùa, người dân tiến hành làm đất, gieo trồng các loại cây hàng năm vụ đông. Dự ước toàn tỉnh triển khai gieo trồng được 1.784,04 ha , tăng 122,22%  cây hàng năm các loại.

Cây lâu năm: Trong tháng, người dân tập trung chăm sóc những diện tích hiện có, phát cỏ, tỉa cành, bón phân để đảm bảo cho cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt. Đồng thời, tiếp tục thu hoạch sản phẩm trong kỳ phục vụ nhu cầu thị trường.

Tình hình sâu, bệnh hại trên cây trồng: Trong tháng, tổng diện tích nhiễm sinh vật gây hại 5.391,21 ha , giảm 141,93 ha so với cùng kỳ năm trước; diện tích phòng trừ 4.261,24 ha.

* Chăn nuôi

Tháng 10 năm 2025, chăn nuôi gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh phát triển tương đối ổn định; dịch bệnh cơ bản được kiểm soát.

Dự ước số đầu con và sản lượng thịt hơi xuất chuồng trong tháng và so với cùng kỳ năm trước: Trâu 912 con, tăng 4,31%; bò 982 con, tăng 4,17%; lợn 23.245 con, tăng 3,84%; thịt gia cầm 465 tấn, tăng 2,38%; trứng 8.505,15 nghìn quả, tăng 1,97%. Các mô hình nuôi nhốt chuồng, nuôi vỗ béo đạt hiệu quả kinh tế cao đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trên địa bàn tỉnh và các vùng lân cận đang được người dân quan tâm đầu tư.

Tình hình thiệt hại do dịch bệnh : Tháng 10 năm 2025, có 3.511 con lợn bị chết và tiêu hủy do dịch tả lợn Châu Phi xảy ra tại 31/45 xã, phường. Trong tháng, công tác kiểm dịch động vật được 1.490 con gia súc, 324 kg thịt trâu bò xuất ngoài tỉnh; kiểm soát giết mổ được 4.324 con gia súc.

b) Lâm nghiệp

Trong tháng, không thực hiện triển khai trồng rừng mới tập trung. Dự ước gỗ khai thác 1.022 m3, giảm 0,68%; củi khai thác 65.796 ste, tăng 0,29%. Tính chung 10 tháng, sản lượng gỗ khai thác đạt 9.399 m3, giảm 3,18%; sản lượng củi khai thác đạt 648.618 ste, tăng 0,06%.

Diện tích rừng bị thiệt hại trong tháng là 0,95 ha rừng, tăng 5,1 lần so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng, có 93,52 ha rừng bị thiệt hại, giảm 14,5% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích rừng bị thiệt hại chủ yếu do phá rừng.

Trong tháng, toàn tỉnh xảy ra 12 vụ vi phạm luật Lâm nghiệp , cơ quan chức năng đã tịch thu 0,379 m3; tổng số tiền thu nộp ngân sách 82,05 triệu đồng.

c) Thủy sản

Nuôi trồng và khai thác thuỷ sản trên địa bàn tỉnh tiếp tục được duy trì, dự ước toàn tỉnh có 2.734,49 ha ao, hồ nuôi trồng thủy sản, giảm 0,37% so với cùng kỳ năm trước (trong đó: diện tích nuôi cá 2.732,99 ha). Các mô hình nuôi cá lồng bè trên địa bàn tỉnh tiếp tục được quan tâm và đầu tư 335 lồng với thể tích 45.626 m³, mô hình nuôi cá hồi bằng bể bồn tại xã Quài Tở với 600 m3. 

Sản lượng thủy sản tháng 10/2025 ước đạt 458,39 tấn, tăng 4,17% so với cùng kỳ năm trước (trong đó: Nuôi trồng đạt 431,19 tấn, tăng 4,23%; khai thác đạt 27,2 tấn, tăng 3,34%). Tính chung 10 tháng, sản lượng thủy sản ước đạt 4.264,07 tấn, tăng 3,83% so với cùng kỳ năm trước (trong đó: Nuôi trồng đạt 4.011,46 tấn, tăng 3,88%; khai thác đạt 252,61 tấn, tăng 2,99%).

Sản lượng thủy sản nuôi trồng tháng 10/2025 ước đạt 431,19 tấn, tăng 4,23% so với thực hiện cùng kỳ năm trước, trong đó: Cá đạt 427,8 tấn, tăng 4,23%; tôm đạt 1,72 tấn, tăng 3,61%; thủy sản khác 1,67 tấn, tăng 2,45%. Tính chung 10 tháng, ước đạt 4.011,46 tấn, tăng 3,88% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Cá đạt 3.968,18 tấn, tăng 3,9%; tôm đạt 12,36 tấn, tăng 2,15%; thủy sản khác đạt 30,92 tấn, tăng 1,68%.

Sản lượng thuỷ sản khai thác tháng 10/2025 ước đạt 27,2 tấn, tăng 3,34% so với thực hiện cùng kỳ năm trước, bao gồm: Cá đạt 20,69 tấn, tăng 3,87%; tôm đạt 2,26 tấn, tăng 1,35%; thủy sản khác 4,25 tấn, tăng 1,92%. Tính chung 10 tháng, ước đạt 252,61 tấn, tăng 2,99% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Cá đạt 178,13 tấn, tăng 3,24%; tôm đạt 23,92 tấn, tăng 1,79%; thủy sản khác đạt 50,56 tấn, tăng 2,7%.

2. Sản xuất công nghiệp

Sản xuất công nghiệp tháng Mười chịu ảnh hưởng lớn bởi ngành sản xuất và phân phối điện. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp trong tháng ước tính giảm 12,74% so với tháng trước và tăng 13,25% so với cùng kỳ năm trước; tính chung 10 tháng, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 8,05% so với cùng kỳ năm trước. 

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng 10/2025 ước giảm 12,74% so với tháng trước và tăng 13,25% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành khai khoáng tăng 13,66% và tăng 8,17%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chế tạo tăng 6,42% và tăng 10,07%; ngành sản xuất và phân phối điện giảm 27,19%  và tăng 17,28%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 0,88% và tăng 8,72%.

Tính chung 10 tháng, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 8,05% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành khai khoáng tăng 16,56%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,93%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 6,01% ; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,89%.

Chỉ số sản xuất 10 tháng năm 2025 của một số ngành công nghiệp cấp II tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Khai thác than cứng và than non tăng 2,8 lần ; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 19,17%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 15,38%; sản xuất đồ uống tăng 16,72%; dệt tăng 12,31%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 10,1%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc và thiết bị tăng 12,86%. Ở chiều ngược lại, khai thác, xử lý và cung cấp nước giảm 1,73%; sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế giảm 9,64%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác giảm 0,45%.

Một số sản phẩm công nghiệp trong 10 tháng năm 2025 tăng cao với cùng kỳ năm trước: Than đá (than cứng) loại khác tăng 2,8 lần; Xi măng Portland đen tăng 14,19% (đây là một trong những sản phẩm chiếm tỷ trọng lớn và có tác động mạnh đến chỉ số chung của toàn ngành; sản phẩm in khác (quy khổ 13cmx19cm) tăng 25,51%; giường bằng gỗ các lọai tăng 11,21%; đá xây dựng tăng 9,2%; thiết bị dùng cho dàn giáo, ván khuôn tăng 8,55%; điện thương phẩm tăng 7,5%. Ở chiều ngược lại, một số sản phẩm giảm so với cùng kỳ năm trước: Báo in (quy khổ 13cmx19cm) giảm 19,73% ; than cốc và bán cốc luyện từ than đá giảm 9,64%; nước không uống được giảm 3,67%.

Như vậy, trong vòng 5 năm qua, chỉ số IIP 10 tháng luôn có mức tăng giảm không đồng đều giữa các ngành cấp I, trong đó có ngành thủy điện phụ thuộc hoàn toàn vào yếu tố khách quan từ thời tiết nên ảnh hưởng đến kết quả dự báo sản lượng điện và chỉ số sản xuất chung của toàn ngành. 

Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/10/2025 tăng 0,26% so với tháng trước, trong đó chủ yếu ở khu vực doanh nghiệp ngoài Nhà nước với mức tăng 0,84%. So với tháng cùng kỳ năm trước tăng 5,19%, trong đó chủ yếu ở khu vực doanh nghiệp ngoài Nhà nước với mức tăng 9,01%. Tính chung 10 tháng, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tăng 4,05% (khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 1,7%, khu vực doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 5,69%).  

3. Đầu tư phát triển

Vốn đầu tư phát triển trên địa bàn 10 tháng năm 2025 tăng trưởng còn thấp, chưa đạt được như kế hoạch đề ra; ước tính đạt 13.788,02 tỷ đồng, giảm 0,04% so với cùng kỳ năm trước, đạt 49,33% kế hoạch (trong đó: Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý giảm 8,63% so với cùng kỳ năm trước và đạt 74,33% kế hoạch).

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý tháng 10 năm 2025 ước đạt 342,9 tỷ đồng, tăng 2,66% so với tháng trước, giảm 4,52% so với cùng kỳ năm trước. Bao gồm: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 319,69 tỷ đồng, tăng 2,71% và giảm 8,13% ; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 23,21 tỷ đồng , tăng 2% và tăng 107,65%. 

Tính chung 10 tháng, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý đạt 2.754,53 tỷ đồng, giảm 8,63% so với cùng kỳ năm trước, đạt 74,33% kế hoạch. Bao gồm: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 2.615,9 tỷ đồng, giảm 10,89%, đạt 74,53% kế hoạch; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 138,63 tỷ đồng, tăng 74,81%, đạt 70,64% kế hoạch.

Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh tháng 10 năm 2025 ước đạt 1.631,22 tỷ đồng, tăng 2,74% so với tháng trước, tăng 5,62% so với cùng kỳ năm trước. Bao gồm: Vốn Nhà nước trên địa bàn đạt 638,6 tỷ đồng, tăng 2,81% và giảm 8,37% (trong đó: Vốn Trung ương quản lý đạt 239,23 tỷ đồng, tăng 2,91% và giảm 20,63%; vốn địa phương quản lý đạt 399,37 tỷ đồng, tăng 2,76% và tăng 0,97%); vốn ngoài Nhà nước đạt 992,63 tỷ đồng, tăng 2,69% và tăng 17,14%.

Tính chung 10 tháng, vốn đầu tư phát triển toàn xã hội ước đạt 13.788,02 tỷ đồng, giảm 0,04% so với cùng kỳ năm trước, đạt 49,33% kế hoạch. Bao gồm: Vốn Nhà nước trên địa bàn đạt 5.258,78 tỷ đồng, giảm 16,27%, đạt 41,35% kế hoạch (vốn Trung ương quản lý đạt 2.064,57 tỷ đồng, giảm 29,65%, đạt 24,44% kế hoạch; vốn địa phương quản lý đạt 3.194,21 tỷ đồng, giảm 4,54%, đạt 74,82% kế hoạch); vốn ngoài Nhà nước đạt 8.529,24 tỷ đồng, tăng 13,53%, đạt 56% kế hoạch.

4. Thu, chi ngân sách Nhà nước

Thu ngân sách Nhà nước 10 tháng năm 2025 ước tăng 56,45% so với cùng kỳ năm trước. Chi ngân sách Nhà nước ước tăng 22,87% so với cùng kỳ năm trước, đảm bảo các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý nhà nước, cũng như chi trả kịp thời cho các đối tượng theo quy định.

a) Thu ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước tháng 10 năm 2025 ước đạt 206,83 tỷ đồng. Lũy kế tổng thu ngân sách Nhà nước 10 tháng đạt 1.987,74 tỷ đồng, tăng 56,45% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó:

- Thu nội địa tháng 10 năm 2025 ước đạt 196,22 tỷ đồng. Lũy kế 10 tháng, ước đạt 1.605,24 tỷ đồng (chiếm 80,76%), tăng 45,72% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Thu từ doanh nghiệp nhà nước ước đạt 254,39 tỷ đồng (chiếm 12,8%), tăng 15,44%; thu từ công, thương nghiệp ngoài quốc doanh ước đạt 406,13 tỷ đồng (chiếm 20,43%), tăng 18,95%; các khoản thu về nhà, đất ước đạt 469,98 tỷ đồng (chiếm 23,64%), tăng gần 2,6 lần.

- Thu cân đối hoạt động xuất nhập khẩu tháng 10 năm 2025 ước đạt 5,3 tỷ đồng. Lũy kế 10 tháng, ước đạt 16,38 tỷ đồng (chiếm 0,82%), giảm 23,23% so với cùng kỳ năm trước. 

b) Chi ngân sách Nhà nước

Tổng chi ngân sách Nhà nước tháng 10 năm 2025 ước đạt 1.098,63 tỷ đồng. Lũy kế 10 tháng, ước đạt 15.088,72 tỷ đồng, tăng 22,87% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Chi đầu tư phát triển đạt 3.612,78 tỷ đồng (chiếm 23,94%), giảm 1,45%; chi thường xuyên đạt 11.471,04 tỷ đồng (chiếm 76,02%), tăng 33,26%.

5. Thương mại, dịch vụ, vận tải

a) Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 

Hoạt động thương mại và dịch vụ tháng Mười tăng trưởng ổn định, các hoạt động mua sắm, ăn uống, du lịch, lưu trú và các loại hình dịch vụ vui chơi, giải trí diễn ra sôi động, góp phần thúc đẩy tổng cầu tiêu dùng, với tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 16,95% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 12,14% so với cùng kỳ năm trước.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 10 năm 2025 ước đạt 2.472,01 tỷ đồng, giảm 0,76% so với tháng trước, tăng 16,95% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 23.658,57 tỷ đồng, tăng 12,14% so với cùng kỳ năm trước.

* Bán lẻ hàng hoá 

Doanh thu tháng 10/2025 ước đạt 2.042,46 tỷ đồng, giảm 0,18% so với tháng trước, tăng 16,08% so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng, tình hình hoạt động bán lẻ hàng hóa duy trì đà tăng trưởng ổn định, nhiều nhóm ngành hàng tiếp tục tăng trưởng so với tháng trước và cùng kỳ. Các hoạt động mua sắm, ăn uống, du lịch, lưu trú và các loại hình dịch vụ vui chơi, giải trí diễn ra sôi động, góp phần thúc đẩy tổng cầu tiêu dùng và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, hiện nay do tình hình hàng giả, hàng không rõ nguồn gốc diễn biến phức tạp nên người tiêu dùng có xu hướng thận trọng và khắt khe hơn trong việc chọn lựa và chi tiêu (hàng lương thực, thực phẩm giảm 0,88% và tăng 16,17%; hàng may mặc tăng 0,14% và 19,14%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 0,21% và tăng 7,05%); ngành hàng đá quý, kim loại quý và sản phẩm vẫn có xu hướng tăng do giá vàng liên tục tăng trong thời gian gần đây, tăng 5,65% và tăng 18,17%; nhóm ngành hàng thiết yếu tăng trưởng ổn định; nhóm vật phẩm văn hóa, giáo dục giảm nhẹ, giảm 0,66% và tăng 17,68%; nhóm ngành gỗ và vật liệu xây dựng tăng cao do nhu cầu xây dựng trong thời gian qua tăng cao, tác động làm giá vật liệu xây dựng cát, đá, gạch… liên tục tăng.

Tính chung 10 tháng, ước đạt 19.390,89 tỷ đồng, tăng 12,16% so với cùng kỳ và tăng ở tất cả các ngành hàng, tăng cao ở một số nhóm: Xăng, dầu các loại tăng 23,87%; nhiên liệu khác tăng 26,51%; dịch vụ sửa chữa xe có động cơ, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác tăng 20,43%; vật phẩm văn hóa, giáo dục tăng 15,33%; hàng may mặc tăng 13,95%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 12,48%.

* Dịch vụ lưu trú, ăn uống

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng 10 năm 2025 ước đạt 115,07 tỷ đồng, giảm 9,96% so với tháng trước và tăng 29,99% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng, đạt 1.222,41 tỷ đồng, tăng 4,01% so cùng kỳ năm trước, bao gồm: Dịch vụ lưu trú đạt 151,5 tỷ đồng, tăng 5,58%; dịch vụ ăn uống đạt 1.070,92 tỷ đồng, tăng 3,8%.

* Dịch vụ khác

Doanh thu một số ngành dịch vụ khác tháng 10 năm 2025 ước tính đạt 313,92 tỷ đồng, giảm 0,83% so với tháng trước, tăng 18,24% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng, đạt 3.040,97 tỷ đồng, tăng 15,65% so với cùng kỳ năm trước. 

b) Giá cả

* Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)

Trong tháng, giá một số mặt hàng thực phẩm tăng; giá bán các loại gạo tăng do thời gian gối vụ dài; một số mặt hàng khác như ngô, khoai do trái vụ, nguồn cung hạn chế nên giá tăng cao; cùng với đó, yếu tố thời tiết và các hoạt động lễ hội... là những nguyên nhân chủ yếu làm cho Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 10 năm 2025 tăng 0,04% so với tháng trước, so với cùng kỳ năm trước tăng 1,11% và so kỳ gốc năm 2019 tăng 10,67%. Tính chung 10 tháng, CPI giảm 0,35% so với cùng kỳ năm trước.

Trong mức tăng 0,04% của CPI tháng 10 năm 2025 so với tháng trước, có 7 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng, 2 nhóm hàng hoá có chỉ số giá giảm và 2 nhóm có chỉ số bình ổn. 

(1) Bẩy nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng:

- Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,28%. Lương thực tăng 0,47%  (cụ thể: Gạo tẻ thường tăng 0,94%; gạo tẻ ngon tăng 0,34%; gạo nếp tăng 0,25%; ngô tăng 2%; khoai tăng 2,14%; bún, bánh phở, bánh đa tăng 0,41%); thực phẩm tăng 0,11%; ăn uống ngoài gia đình tăng 0,88% (cụ thể: ăn ngoài gia đình tăng 0,80%; uống ngoài gia đình và đồ ăn nhanh mang đi đều tăng 1,31%).

- Nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,71% . Nguyên nhân do thời tiết chuyển lạnh vào buổi sáng và tối, nhu cầu của người dân về một số mặt hàng quần áo thu đông tăng tác động làm chỉ số giá một số mặt hàng trong nhóm tăng.

- Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,02%, một số mặt hàng có chỉ số giá tăng, cụ thể: Gas tăng  10.200 đồng/bình 12kg đã tác động làm chỉ số giá gas bình quân trong tháng tăng 2,54%; dầu hỏa tăng 0,36%. 

- Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,06%, trong đó: Máy điều hòa nhiệt độ tăng 0,69%; bình nước nóng nhà tắm tăng 1,27%; bàn là điện tăng 0,92%; lò vi sóng, lò nướng, bếp từ và ấm, phích nước điện tăng 0,99%; ly, cốc, lọ hoa tăng 4,22%; sửa chữa máy giặt tăng 3,43%; sửa chữa máy điều hòa nhiệt độ tăng 1,3%; sửa chữa tủ lạnh tăng 2,01%; sữa chữa ti vi tăng 2,3%; sửa chữa thiết bị có động cơ tăng 1,6%. Do thời tiết đã dần chuyển sang đông, nhu cầu của người dân về các mặt hàng làm ấm tăng; nhu cầu mua sắm một số loại ly, cốc, lọ hoa làm quà ngày 20/10 tăng, đã tác động làm tăng giá bán các mặc hàng trong nhóm.

- Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,11%, cụ thể: Thuốc chống nhiễm, điều trị ký sinh trùng tăng 1,18%; thuốc tim mạch tăng 0,67%; thuốc chống dị ứng và các trường hợp quá mẫn tăng 1,22%; nhóm thuốc giảm đau; thuốc hạ sốt; chống viêm không steroid và thuốc điều trị gút và các bệnh xương tăng 0,59%; hóc môn và các thuốc tác động và hệ nội tiết tăng 1,08%; nhóm thuốc tác động trên đường hô hấp tăng 0,62%. Nguyên nhân, thời tiết chuyển mùa, trẻ em và người già có sức đề kháng kém dễ mắc một số bệnh về đường hô hấp nên nhu cầu sử dụng một số loại thuốc tăng. 

- Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,03%; 

- Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,04%, cụ thể: Túi xách, va ly, ví tăng 1,04%; đồ trang sức tăng 3,46%; đồng hồ đeo tay tăng 0,75%; sửa chữa đồng hồ đeo tay, đồ trang sức 3,25%.

(2) Hai nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm:

- Nhóm đồ uống thuốc lá giảm 0,34%, cụ thể: Bia chai giảm 2,19%; bia lon giảm 1,69%, do thời tiết chuyển lạnh, nhu cầu sử dụng một số loại đồ uống, bia của người dân ít hơn.

- Nhóm giao thông giảm 1%, do trong tháng Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam điều chỉnh giảm giá bán lẻ xăng, dầu, cụ thể: Chỉ số giá xăng A95 III giảm 2,59%; dầu Diezel giảm 0,55%. 

(3) Hai nhóm có chỉ số giá ổn định so với tháng trước là: Bưu chính viễn thông và giáo dục.

CPI bình quân 10 tháng giảm 0,35% so với bình quân cùng kỳ năm trước. Trong đó: 02 nhóm hàng có chỉ số giá giảm (giao thông giảm 4,02%; giáo dục giảm 24,98%) và 09 nhóm hàng có chỉ số tăng (hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,16%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,06%; may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 1,21%; nhà ở, điện nước, chất đốt và VLXD tăng 1,21%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,4%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 4,33%; bưu chính viễn thông tăng 0,01%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,08%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 3,03%).

* Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ 

Chỉ số giá vàng tháng 10 tăng 9,59% so với tháng trước, tăng 70,43% so với cùng kỳ năm trước, tăng 271,02% so với kỳ gốc 2019. Tính chung 10 tháng, chỉ số giá vàng tăng 39,22% so với cùng kỳ năm trước.

Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 10 giảm 0,34% so với tháng trước, tăng 5,56% so với cùng kỳ năm trước, tăng 13,05% so với kỳ gốc 2019. Tính chung 10 tháng, chỉ số giá đô la Mỹ tăng 3,89% so với cùng kỳ năm trước.

* Giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng nông, lâm nghiệp, thủy sản và giá nguyên, nhiên, vật liệu đầu vào của sản xuất: Chỉ số có mức tăng, giảm tương ứng với giá tiêu dùng trên phạm vi địa bàn toàn tỉnh Điện Biên.

c) Hoạt động Vận tải

Hoạt động vận tải, kho bãi tháng Mười diễn ra sôi động, đáp ứng nhu cầu đi lại, du lịch của người dân; phục vụ vận chuyển hàng hóa, nông sản trên địa bàn tác động làm tăng doanh thu của ngành. So với cùng kỳ năm trước, vận chuyển hành khách tháng 10 tăng 15,49% và luân chuyển tăng 14,11%; vận chuyển hàng hóa tăng 17,56% và luân chuyển tăng 17,92%.

Tính chung 10 tháng, vận chuyển hành khách tăng 0,93% so với cùng kỳ năm trước, luân chuyển hành khách tăng 0,56%; vận chuyển hàng hóa tăng 18,06%, luân chuyển hàng hóa tăng 18,54%. 

Tổng doanh thu của hoạt động vận tải, kho bãi ước thực hiện tháng 10 năm 2025 đạt 178,03 tỷ đồng, tăng 0,5% so với tháng trước và tăng 17,09% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng, đạt 1.686,74 tỷ đồng, tăng 14,38% so cùng kỳ năm trước (bao gồm: Vận tải hành khách đạt 333,66 tỷ đồng, tăng 0,8%; vận tải hàng hóa đạt 1.338,3 tỷ đồng, tăng 18,52%; hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 14,78 tỷ đồng, tăng 2,03%). 

Vận tải hành khách tháng 10 năm 2025 ước đạt 313,27 nghìn lượt khách vận chuyển, tăng 0,26% so với tháng trước, tăng 15,49% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển 48,99 triệu HK.km, tăng 0,25% và tăng 14,11%. Tính chung 10 tháng, vận tải hành khách ước đạt 2.999,31 nghìn hành khách vận chuyển, tăng 0,93% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển 470,38 triệu HK.km, tăng 0,56%.

Vận tải hàng hóa tháng 10 năm 2025 ước đạt 918,44 nghìn tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 0,54% so với tháng trước và tăng 17,56% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển 42,04 triệu tấn.km, tăng 0,56% so với tháng trước và tăng 17,92% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng, vận tải hàng hóa đạt 8.707,33 nghìn tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 18,06% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển 397,13 triệu tấn.km, tăng 18,54%.

II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI

1. Tình hình đời sống dân cư

Trong 10 tháng năm 2025, đời sống của các tầng lớp dân cư tỉnh Điện Biên nhìn chung ổn định và có nhiều chuyển biến tích cực so với cùng kỳ năm trước. Trên địa bàn tỉnh diễn ra nhiều sự kiện văn hóa – du lịch quy mô lớn như Lễ hội Hoa Ban, Lễ hội Thành Bản Phủ, Festival Tinh hoa Tây Bắc – Điện Biên 2025, cùng các hoạt động kỷ niệm những ngày lễ lớn của đất nước. Các sự kiện này đã góp phần tạo không khí sôi nổi, phấn khởi trong nhân dân, đồng thời thúc đẩy các ngành dịch vụ, đặc biệt là du lịch, thương mại và ẩm thực phát triển mạnh mẽ, bền vững hơn. Cùng với đó, đẩy mạnh các hoạt động văn hóa, văn nghệ, tuyên truyền kết quả Đại hội Đảng bộ các cấp, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Điện Biên lần thứ XV, hướng tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, qua đó lan tỏa tinh thần đoàn kết, niềm tin và khát vọng phát triển trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. 

2. Y tế

a) Tình hình dịch bệnh và công tác phòng, chống dịch

Tình hình dịch bệnh: Trong tháng, đã ghi nhận dịch bệnh lỵ trực trùng tại các xã Nậm Kè, xã Mường Nhé, xã Quảng Lâm; theo báo cáo sơ bộ ngành Y tế, từ ngày 08/10/2025 đến ngày 26/10/2025 tổng số ca mắc dịch là 152 ca, tử vong 01 ca, số ca đã điều trị khỏi 57 ca, số ca đang điều trị 94 ca. Tình hình dịch sởi trên địa bàn tỉnh không ghi nhận ca măc mới; lũy tích đến 15/10/2025 trên địa bàn tỉnh xảy ra 1.314 ca mắc, không ghi nhận tử vong, điều trị khỏi 1.314 ca. Các ổ dịch trên đã được điều tra, xác minh, chẩn đoán và triển khai các biện pháp xử lý kịp thời.

Công tác phòng chống dịch: Ngành Y tế tiếp tục triển khai thực hiện nghiêm túc, chủ động, đồng bộ các biện pháp phòng chống dịch trên địa bàn theo Kế hoạch phòng chống dịch bệnh truyền nhiễm ở người năm 2025 của UBND tỉnh. Tăng cường công tác truyền thông bằng nhiều hình thức giúp cho người dân hiểu và chủ động tham gia phòng chống dịch bệnh. Trước diễn biến phức tạp của dịch bệnh lỵ trực trùng tại một số xã, Thường trực Tỉnh ủy đã chỉ đạo các cấp, ngành và địa phương tăng cường công tác phòng, chống, khống chế không để dịch lây lan trên diện rộng.

b) Tình hình lây nhiễm HIV/AIDS

Tình hình nhiễm HIV/AIDS trên địa bàn tỉnh, tính đến 30/9/2025, có 45/45 xã, phường có người nhiễm HIV. Luỹ tích toàn tỉnh có 7.863 ca nhiễm HIV, trong đó: có 03 ca mắc mới trong tháng; số chuyển AIDS luỹ tích 5.445 ca (không có ca AIDS mắc mới); số tử vong lũy tích 4.234 ca (trong đó: Tử vong mới trong tháng là 06 ca; số còn sống quản lý được 3.409 ca, đạt 93,9% người nhiễm HIV trên địa bàn). Tỷ lệ nhiễm HIV còn sống/dân số 0,51%.

c) Tình hình vệ sinh an toàn thực phẩm 

Trong tháng, tăng cường công tác truyền thông, kiểm tra, giám sát ATTP tại các cơ sở sản xuất chế biến thực phẩm, kinh doanh dịch vụ ăn uống trên địa bàn toàn tỉnh; tăng cường công tác quản lý ATTP, ngăn ngừa thực phẩm giả. Hoạt động kiểm tra, giám sát ATTP: 

- Tại cấp tỉnh, xã thành lập 25 Đoàn kiểm tra liên ngành về ATTP. Thực hiện kiểm tra công tác QLNN về ATTP đối với 03 BCĐ ATTP tuyến xã, phường; thực hiện kiểm tra 372 cơ sở thực phẩm. Kết quả: 03/03 BCĐATTP tuyến xã, phường thực hiện đảm bảo công tác quản lý nhà nước về ATTP, 372/372 cơ sở thực phẩm được kiểm tra đạt yêu cầu về ATTP. 

- Tại cấp xã thực hiện giám sát đảm bảo ATTP tại các cơ sở thực phẩm trên địa bàn. Trong đó, thực hiện giám sát 215 cơ sở thực phẩm. Kết quả: 211/215 cơ sở đạt yêu cầu về ATTP (chiếm 98,1%), 04/215 cơ sở không đạt yêu cầu (chiếm 1,9%). Hình thức xử lý: Nhắc nhở, hướng dẫn các quy định về điều kiện đảm bảo ATTP theo quy định của pháp luật. 

- Các Trung tâm Y tế thực hiện 05 đợt giám sát, hướng dẫn ngộ độc thực phẩm đối với các cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm, dịch vụ ăn uống, bếp ăn tập thể; 02 đợt giám sát, hướng dẫn ngộ độc thực phẩm tại các cơ sở thức ăn đường phố.

Tiếp tục thực hiện việc kiểm tra và cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện ATTP cho các cơ sở sản xuất, chế biến và kinh doanh thực phẩm thuộc phân cấp quản lý. Lũy tích cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện ATTP hoặc ký cam kết đảm bảo ATTP trên địa bàn toàn tỉnh 2.055/2.108 cơ sở (chiếm 97,5%).

Trong tháng, không xảy ra các ca, vụ ngộ độc thực phẩm. Lũy tích 10 tháng năm 2025, trên địa bàn tỉnh xảy ra 03 vụ ngộ độc thực phẩm với 21 ca mắc, 02 ca tử vong, 100% các vụ ngộ độc thực phẩm được điều tra, xác minh kịp thời (cùng kỳ năm 2024 không có ca, vụ ngộ độc thực phẩm). 

3. Giáo dục - Đào tạo 

Trong tháng, Sở Giáo dục và Đào tạo tiếp tục duy trì và thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm đã đặt ra cho toàn ngành giáo dục, tập trung vào công tác quản lý nhà nước về giáo dục sau khi thực hiện chính quyền địa phương 02 cấp; đã tham mưu UBND tỉnh ban hành nhiều văn bản quan trọng nhằm cụ thể hóa các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Trung ương và của tỉnh trong lĩnh vực giáo dục. Đặc biệt, ngành tập trung hoàn thiện hồ sơ, thủ tục trình HĐND tỉnh thông qua các nghị quyết về chính sách đào tạo nhân lực tại Trung Quốc, Thái Lan giai đoạn 2025–2030; điều chỉnh chính sách hỗ trợ lưu học sinh Lào; sửa đổi quy định về chế độ cử tuyển đối với học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số. Bên cạnh đó, ngành tích cực phối hợp triển khai hồ sơ thành lập Phân hiệu Đại học Thái Nguyên và hỗ trợ đầu tư Tổ hợp giáo dục FPT, mở ra cơ hội phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tại địa phương.

Công tác chuyên môn được triển khai sâu rộng ở tất cả các cấp học, chú trọng nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện và thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy - học. Các cấp học Mầm non, Tiểu học và Trung học tổ chức sinh hoạt chuyên môn theo cụm, đẩy mạnh xây dựng trường chuẩn quốc gia, thực hiện chương trình phổ cập giáo dục, đồng thời triển khai các chuyên đề hỗ trợ giáo viên nâng cao năng lực chuyên môn. Ngành tiếp tục duy trì và mở rộng các chương trình hợp tác quốc tế như “Thư viện thân thiện”, “Tỉnh bạn hữu trẻ em”, “Vui đọc cùng em” góp phần xây dựng môi trường học tập an toàn, bình đẳng và thân thiện cho học sinh. Hoạt động giao lưu giáo dục giữa các trường học tỉnh Điện Biên và thành phố Saint Petersburg (Liên bang Nga) được tổ chức thành công, tạo dấu ấn trong hợp tác quốc tế về giáo dục.

Công tác quản lý chất lượng, chuyển đổi số và cải cách hành chính được đẩy mạnh. Ngành tham mưu triển khai Cuộc thi ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý, giảng dạy, xây dựng kế hoạch tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2035. Công tác Đảng, kiểm tra, giám sát, công tác tư tưởng và truyền thông giáo dục tiếp tục được thực hiện nghiêm túc, bảo đảm thông suốt từ Sở đến các đơn vị trực thuộc. Những kết quả đạt được đã góp phần khẳng định vai trò trung tâm của ngành giáo dục trong phát triển nguồn nhân lực và thúc đẩy sự phát triển bền vững của tỉnh Điện Biên.

4. Hoạt động văn hóa, thông tin, Thể dục thể thao và du lịch

a) Sự kiện đặc biệt

Trong 10 tháng năm 2025, tỉnh Điện Biên đã tổ chức thành công nhiều hoạt động như: Lễ hội Hoa Anh Đào, Lễ hội Hoa Ban và Ngày hội Văn hóa, Thể thao và Du lịch các dân tộc lần thứ VIII năm 2025; Festival Tây Bắc - Điện Biên năm 2025… với nhiều hoạt động đặc sắc, góp phần quảng bá hình ảnh, văn hóa, con người Điện Biên tới du khách trong và ngoài nước, tạo không khí vui tươi, phấn khởi trong Nhân dân. Triển khai các hoạt động kỷ niệm 50 năm Giải phóng miền Nam, 71 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ, 135 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiêu biểu là Chương trình nghệ thuật “Non sông gấm vóc - Một dải vinh quang” ngày 03/5/2025, thu hút đông đảo người xem, khơi dậy lòng tự hào dân tộc, tri ân các anh hùng liệt sĩ, người có công với cách mạng. Tỉnh cũng đẩy mạnh các hoạt động văn hóa, văn nghệ tuyên truyền Đại hội Đảng bộ các cấp, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Điện Biên lần thức XV, tiến tới Đại hội XIV của Đảng.

b) Hoạt động quản lý Nhà nước và văn hóa, văn nghệ

Công tác tuyên truyền: Trong tháng, công tác tuyên truyền, cổ động các hoạt động, sự kiện của tỉnh, của đất nước tiếp tục được đẩy mạnh bằng nhiều hình thức phong phú, góp phần định hướng dư luận xã hội, tạo sự đồng thuận trong Nhân dân và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn. Đẩy mạnh tuyên truyền Đại hội đảng bộ các cấp; hướng dẫn công tác tuyên truyền Cuộc thi trực tuyến “Tìm hiểu pháp luật dành cho học sinh” trên địa bàn tỉnh.

Hoạt động nghệ thuật quần chúng: Phong trào nghệ thuật quần chúng trên địa bàn tỉnh tiếp tục phát triển, gắn với các ngày lễ lớn, sự kiện chính trị, văn hóa quan trọng của đất nước và của tỉnh. Tham mưu hướng dẫn tổ chức và hoạt động của Đội văn nghệ quần chúng trên địa bàn tỉnh phù hợp với chính quyền 2 cấp.

Hoạt động nghệ thuật chuyên nghiệp: Hoạt động nghệ thuật biểu diễn từng bước được củng cố và nâng cao năng lực phục vụ. Trong tháng, tổ chức các hoạt động văn hóa, tuyên truyền chào mừng các ngày lễ, kỷ niệm của đất nước, của tỉnh ; trưng bày ảnh Triển lãm “Thành tựu phát triển KT-XH giai đoạn 2020 - 2025”; trưng bày, giới thiệu các xuất bản phẩm, ấn phẩm tuyên truyền về Đại hội Đảng bộ tỉnh Điện Biên lần thứ XV tại các hiệu sách…

Hoạt động hệ thống thư viện: Tổ chức Hội thi kể chuyện theo sách tỉnh Điện Biên năm 2025; tham mưu Kế hoạch thành lập hệ thống thư viện công cộng xã, phường theo Quyết định số 2536/QĐ-BVHTTDL của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Phối hợp thực hiện trưng bày, giới thiệu sách, tài liệu pháp luật tại Hội nghị tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và vận động Nhân dân chấp hành pháp luật trên địa bàn xã Mường Ảng; tổ chức phục vụ lưu động tại các trường học trên địa bàn các xã Pa Ham, Mường Pồn, Nậm Kè; phối hợp tổ chức hoạt động hưởng ứng Tuần lễ học tập suốt đời tại một số xã, phường trên địa bàn tỉnh.

Hoạt động phát huy giá trị di sản văn hóa: Công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh tiếp tục được quan tâm, triển khai; tuyên truyền, giới thiệu Chiến thắng Điện Biên Phủ và tổ chức các hoạt động trải nghiệm tại các trường học; triển lãm “Điện Biên Phủ - Điểm hẹn lịch sử”; “Nơi Bác dừng chân Trường Dục Thanh Phan Thiết”; phối hợp triển lãm ảnh tại Đại hội đại biểu Đoàn cơ sở Trung đoàn 741; công tác tu bổ, tôn tạo các di tích lịch sử - văn hóa được triển khai đúng quy định, gắn với phát huy giá trị di tích phục vụ phát triển du lịch và giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ. Trong tháng, hai bảo tàng và các điểm di tích đón 33.234 lượt khách đến tham quan, trong đó có 617 lượt khách nước ngoài. Lũy kế 10 tháng, đón 301.866 lượt khách đến tham quan, đạt 67,2% kế hoạch, trong đó 5.830 lượt khách nước ngoài, đạt 99,7% kế hoạch.

c) Hoạt động thể dục thể thao

Phong trào TDTT cho mọi người: Trong tháng, phong trào thể dục thể thao quần chúng tiếp tục được duy trì và phát triển sâu rộng, thu hút đông đảo Nhân dân tham gia. Tổ chức Hội thi thể thao các dân tộc thiểu số tỉnh Điện Biên; Đại hội TDTT ngành Giáo dục và Đào tạo lần thứ VIII, năm 2025 (Giai đoạn 1). Tham gia thi đấu thể thao và biểu diễn nghệ thuật tại huyện Giang Thành, thành phố Phổ Nhĩ, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Tổ chức Giải thể thao cấp xã trong CTMTQG xây dựng NTM tại các xã: Na Sang, Nà Hỳ. Phong trào TDTT quần chúng tiếp tục được duy trì và phát triển trên địa bàn tỉnh. Duy trì tỷ lệ số người tham gia luyện tập thường xuyên ít nhất 01 môn thể thao là 34,83% tổng số dân trong tỉnh; tỷ lệ số gia đình thể thao là 23,84%, có 457 câu lạc bộ thể thao cơ sở trong toàn tỉnh.

Thể thao thành tích cao: Tham gia Giải vô địch Điền kinh trẻ quốc gia năm 2025 tại Đà Nẵng. 

d) Lĩnh vực du lịch

Trong 10 tháng năm 2025, ngành du lịch tiếp tục là điểm sáng và đạt được nhiều kết quả tích cực. Công tác xúc tiến, quảng bá du lịch tiếp tục được triển khai đồng bộ, đa dạng về hình thức, nội dung, gắn với các sự kiện chính trị, văn hóa, thể thao lớn của tỉnh; tổ chức thành công Festival Tinh hoa Tây Bắc - Điện Biên năm 2025; tham mưu tổ chức Festival “Tủa Chùa - Vẻ đẹp nguyên sơ và huyền bí” năm 2025; phối hợp với Đại sứ quán Vương quốc Thái Lan tại Hà Nội tổ chức Hội thảo quốc tế “Tăng cường hợp tác du lịch vì phát triển bền vững”; triển khai lập danh mục tài nguyên du lịch phục vụ công tác điều tra tài nguyên du lịch; phát triển du lịch cộng đồng; phối hợp thông báo về thời gian mở lại tham quan, du lịch khu vực Mốc giao điểm đường biên giới ba nước Việt Nam - Lào - Trung Quốc. 

Hoạt động quảng bá, xúc tiến, thông tin du lịch: Tư vấn, hỗ trợ, cung cấp Tư vấn, hỗ trợ, cung cấp thông tin cho 563 lượt khách du lịch, 03 lượt doanh nghiệp du lịch tìm hiểu thông tin về du lịch Điện Biên.

Tính chung 10 tháng, lượng khách du lịch đạt 1.210,6 nghìn lượt khách, đạt 83,5% kế hoạch (trong đó: Khách quốc tế đạt trên 10.616 lượt khách). Tổng doanh thu từ khách du lịch đạt 2.203,9 tỷ đồng, đạt 91,8% kế hoạch. 

5. Tai nạn giao thông, cháy nổ, vi phạm môi trường 

a) Tai nạn giao thông

Từ 15/8/2025 đến 14/9/2025, trên địa bàn toàn tỉnh đã xảy ra 5 vụ tai nạn giao thông làm bị thương 05 người . Nguyên nhân do người điều khiển không chú ý quan sát, vượt xe sai quy định và vi phạm quy định về tốc độ.

Lũy kế từ ngày 15/11/2024 đến ngày 14/9/2025, trên địa bàn tỉnh đã xảy 64 vụ tai nạn và va chạm giao thông, làm 21 người chết, 61 người bị thương. So cùng kỳ năm trước: Số vụ tai nạn giảm 11,11%; số người chết giảm 12,5%, số người bị thương giảm 20,78%. Nguyên nhân do vi phạm tốc độ khi điều khiển phương tiện, người đi bộ sang đường sai quy định, vượt xe không đúng quy định, đi sai làn đường, phần đường, vi phạm về nồng độ cồn.

b) Cháy nổ

Từ ngày 15/11/2024 đến ngày 14/9/2025, trên địa bàn tỉnh xảy ra 17 vụ cháy, tăng 88,89% so cùng kỳ năm trước; không có thiệt hại về người, ước thiệt hại khoảng 2.789 triệu đồng, giảm 0,83%. Nguyên nhân cháy là do sơ xuất trong quá trình sử dụng nguồn lửa và sự cố thiết bị điện, do vi phạm về quy định PCCC.

c) Tình hình vi phạm môi trường

Trong tháng 10/2025, các cơ quan chức năng đã phát hiện 15 vụ vi phạm môi trường và xử lý 12 vụ với tổng số tiền phạt 136,55 triệu đồng, giảm 66,25% so với tháng trước và tăng 66,5% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng, đã phát hiện 361 vụ vi phạm môi trường và xử lý 385 vụ với tổng số tiền phạt là 2.119,21 triệu đồng, tăng 13,51% so với năm trước. Các vụ vi phạm môi trường thuộc lĩnh vực lâm nghiệp, khoáng sản và ô nhiễm môi trường. 

6. Tình hình thiệt hại do thiên tai và hỗ trợ thiên tai 

Trong tháng, trên địa bàn tỉnh xảy ra 02 vụ thiên tai mưa lớn làm chết 02 người, gây thiệt hại về tài sản của nhân dân 05 ngôi nhà bị hư hỏng, gây thiệt hại về lúa và hoa màu là 10,59 ha. Ước thiệt hại khoảng 276 triệu đồng.

Tính chung 10 tháng, trên địa bàn tỉnh xảy ra 26 đợt thiên tai làm 14 người chết, 19 người bị thương; 4.144 con gia súc, gia cầm bị chết và cuốn trôi; 1.169,23 ha lúa và 373,98 ha rau màu bị hư hỏng; 228 nhà bị sập/cuốn trôi và hư hỏng; thiệt hại về giao thông, thủy lợi, trường học và các thiệt hại khác. Tổng giá trị thiệt hại về tài sản ước tính 1.378,48 tỷ đồng.

Tác giả bài viết: Thống kê tỉnh Điện Biên

Ghi rõ nguồn "Thống kê tỉnh Điện Biên" hoặc "https://thongkedienbien.nso.gov.vn" khi phát hành lại thông tin từ các nguồn này.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây