TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH ĐIỆN BIÊN THÁNG 11 NĂM 2025

Thứ ba - 02/12/2025 10:25

I. KINH TẾ

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

Tháng Mười Một, sản xuất nông nghiệp tiếp tục tập trung vào việc thu hoạch lúa mùa và gieo trồng một số cây hàng năm khác vụ đông; chăn nuôi gia súc, gia cầm phát triển tương đối ổn định, dịch bệnh được kiểm soát tốt; hoạt động lâm nghiệp chủ yếu tập trung vào công tác quản lý, bảo vệ rừng; nuôi trồng, khai thác thủy sản được duy trì, phục vụ tiêu dùng trên địa bàn.

a) Nông nghiệp

* Trồng trọt

Lúa Mùa: Tính đến ngày 20/11/2025, ước toàn tỉnh đã thu hoạch được 42.483,35 ha, giảm 4,66% so với cùng kỳ năm trước.

Một số cây hàng năm khác: Người dân tiến hành làm đất, gieo trồng các loại cây hàng năm vụ đông. Dự ước toàn tỉnh triển khai gieo trồng được 2.172,5 ha, tăng 63,62% cây hàng năm các loại.

Cây lâu năm: Tập trung chăm sóc những diện tích hiện có, phát cỏ, tỉa cành, bón phân để đảm bảo cho cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt. Đồng thời, tiếp tục thu hoạch sản phẩm trong kỳ phục vụ nhu cầu thị trường.

Tình hình sâu, bệnh hại trên cây trồng: Trong tháng, tổng diện tích nhiễm sinh vật gây hại là 1.993 ha, tăng 183,4 ha so với cùng kỳ năm trước; diện tích phòng trừ 86 ha.

* Chăn nuôi

Trong tháng, chăn nuôi gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh phát triển tương đối ổn định, dịch bệnh được kiểm soát. Trong đó: Tổng đàn trâu ước đạt 141.520 con, giảm 0,07% so với cùng kỳ năm trước; tổng đàn bò ước đạt 104.710 con, tăng 0,8%; tổng đàn lợn ước đạt 303.897 con, giảm 1%; đàn gia cầm ước đạt 5.035,51 nghìn con, tăng 1,68% (đàn gà đạt 3.877,34 nghìn con, tăng 2,95%). Chăn nuôi gia cầm tiếp tục phát triển ổn định, vốn đầu tư thấp, thời gian quay vòng nhanh, phù hợp với điều kiện kinh tế của nhiều hộ chăn nuôi. 

Dự ước số đầu con và sản lượng thịt hơi xuất chuồng trong tháng và so với cùng kỳ năm trước: Trâu 906 con, tăng 4,45%; bò 950 con, tăng 4,55%; lợn 23.495 con, tăng 3,76%; thịt gia cầm 438 tấn, tăng 2,34%; trứng 8.249,29 nghìn quả, tăng 1,08%. Các mô hình nuôi nhốt chuồng, nuôi vỗ béo đạt hiệu quả kinh tế cao đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trên địa bàn tỉnh và các vùng lân cận đang được người dân quan tâm đầu tư. Công tác kiểm soát việc giết mổ số gia súc, gia cầm được thực hiện tốt; hoạt động giết mổ tăng so với cùng kỳ năm trước.

Tình hình thiệt hại do dịch bệnh : Tháng 11 năm 2025, có 1.434 con lợn bị chết và tiêu hủy do dịch tả lợn Châu Phi xảy ra tại 25/45 xã, phường. Công tác kiểm dịch động vật được 184 con gia súc, 835 kg thịt trâu bò xuất ngoài tỉnh; tiêm phòng 59.852 liều vắc xin Lở mồm long móng cho trâu, bò; kiểm soát giết mổ được 2.075 con gia súc.

b) Lâm nghiệp

Đến thời điểm báo cáo, trồng rừng mới tập trung toàn tỉnh được 285,46 ha; diện tích rừng khoanh nuôi xúc tiến tái sinh 2.677,57 ha; số lượng cây lâm nghiệp trồng phân tán 788,97 nghìn cây. Trong tháng, dự ước gỗ khai thác 1.220 m3, tăng 0,25%; củi khai thác 69.451 ste, tăng 1,66%. Tính chung 11 tháng, sản lượng gỗ khai thác đạt 10.617 m3, giảm 2,82%; sản lượng củi khai thác đạt 718.069 ste, tăng 0,22%.

Diện tích rừng bị thiệt hại trong tháng là 0,91 ha rừng, giảm 82,12% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 11 tháng, có 94,43 ha rừng bị thiệt hại, giảm 17,51% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích rừng bị thiệt hại chủ yếu do phá rừng.

Trong tháng, toàn tỉnh xảy ra 12 vụ vi phạm luật Lâm nghiệp , cơ quan chức năng đã tịch thu 0,248 m3; tổng số tiền thu nộp ngân sách 71,4 triệu đồng.

c) Thủy sản

Nuôi trồng và khai thác thuỷ sản trên địa bàn tỉnh tiếp tục được duy trì, dự ước toàn tỉnh có 2.734,49 ha ao, hồ nuôi trồng thủy sản, giảm 0,37% so với cùng kỳ năm trước (diện tích nuôi cá 2.732,99 ha). Các mô hình nuôi cá lồng bè trên địa bàn tỉnh tiếp tục được quan tâm và đầu tư 335 lồng với thể tích 45.626 m³, mô hình nuôi cá hồi bằng bể bồn tại xã Quài Tở với 600 m3. 

Sản lượng thủy sản tháng 11/2025 ước đạt 452,31 tấn, tăng 4,23% so với cùng kỳ năm trước (nuôi trồng đạt 429,25 tấn, tăng 4,28%; khai thác đạt 23,06 tấn, tăng 3,41%). Tính chung 11 tháng, sản lượng thủy sản ước đạt 4.716,38 tấn, tăng 3,86% so với cùng kỳ năm trước (nuôi trồng đạt 4.440,71 tấn, tăng 3,92%; khai thác đạt 275,67 tấn, tăng 3,03%).

Sản lượng thủy sản nuôi trồng tháng 11/2025 ước đạt 429,25 tấn, tăng 4,28% so với thực hiện cùng kỳ năm trước, trong đó: Cá đạt 425,5 tấn, tăng 4,29%; tôm đạt 1,62 tấn, tăng 4,52%; thủy sản khác 2,13 tấn, tăng 1,43%. Tính chung 11 tháng, ước đạt 4.440,71 tấn, tăng 3,92% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Cá đạt 4.393,68 tấn, tăng 3,94%; tôm đạt 13,98 tấn, tăng 2,42%; thủy sản khác đạt 33,05 tấn, tăng 1,66%.

Sản lượng thuỷ sản khai thác tháng 11/2025 ước đạt 23,06 tấn, tăng 3,41% so với thực hiện cùng kỳ năm trước, bao gồm: Cá đạt 17,36 tấn, tăng 3,95%; tôm đạt 2 tấn, tăng 1,52%; thủy sản khác đạt 3,7 tấn, tăng 1,93%. Tính chung 11 tháng, ước đạt 275,67 tấn, tăng 3,03% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Cá đạt 195,49 tấn, tăng 3,3%; tôm đạt 25,92 tấn, tăng 1,77%; thủy sản khác đạt 54,26 tấn, tăng 2,65%.

2. Sản xuất công nghiệp

Sản xuất công nghiệp tháng 11 chịu ảnh hưởng lớn bởi ngành sản xuất và phân phối điện. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp trong tháng ước tính giảm 11,04% so với tháng trước và tăng 17,45% so với cùng kỳ năm trước; tính chung 11 tháng, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 8,87% so với cùng kỳ năm trước. 

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng 11/2025 ước giảm 11,04% so với tháng trước và tăng 17,45% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành khai khoáng tăng 22,76% và tăng 16,13%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chế tạo tăng 12% và tăng 8,33%; ngành sản xuất và phân phối điện giảm 36,95%  và tăng 38,97%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 1,07% và tăng 6,86%.

Tính chung 11 tháng, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 8,87% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành khai khoáng tăng 16,61%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,91%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 7,68% ; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,16%.

Chỉ số sản xuất 11 tháng năm 2025 của một số ngành công nghiệp cấp II tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Khai thác than cứng và than non tăng 2,82 lần ; sản xuất đồ uống tăng 19,08%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 18,23%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 15,85%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc và thiết bị tăng 14,8%; dệt tăng 13,03%. Ở chiều ngược lại, sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế giảm 21,05%; khai thác, xử lý và cung cấp nước giảm 1,64%.

Một số sản phẩm công nghiệp trong 11 tháng năm 2025 tăng cao với cùng kỳ năm trước: Than đá (than cứng) loại khác tăng 2,82 lần; sản phẩm in khác (quy khổ 13cmx19cm) tăng 25,24%; xi măng Portland đen tăng 14,21% (đây là một trong những sản phẩm chiếm tỷ trọng lớn và có tác động mạnh đến chỉ số chung của toàn ngành); giường bằng gỗ các loại tăng 11,48%; đá xây dựng tăng 9,49%; thiết bị dùng cho dàn giáo, ván khuôn tăng 8,04%; điện sản xuất tăng 7,68%. Ở chiều ngược lại, một số sản phẩm giảm so với cùng kỳ năm trước: Than cốc và bán cốc luyện từ than đá giảm 21,05%; báo in (quy khổ 13cmx19cm) giảm 19,64% ; nước không uống được giảm 2,56%.

Như vậy, trong vòng 5 năm qua, chỉ số IIP luôn có mức tăng giảm không đồng đều giữa các ngành cấp I, đặc biệt ngành thủy điện phụ thuộc hoàn toàn vào yếu tố khách quan từ thời tiết nên ảnh hưởng đến kết quả dự báo sản lượng điện và chỉ số sản xuất chung của toàn ngành. Tuy nhiên, 11 tháng năm 2025 cả 4 ngành cấp I đều đạt được mức tăng trưởng dương, chứng tỏ đã có mối quan hệ tương quan, bổ trợ và cùng thúc đẩy nhau phát triển.

Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/11/2025 tăng 0,1% so với tháng trước, trong đó chủ yếu ở khu vực doanh nghiệp ngoài Nhà nước với mức tăng 0,17%. So với tháng cùng kỳ năm trước tăng 5,18%, trong đó chủ yếu ở khu vực doanh nghiệp ngoài Nhà nước với mức tăng 8,96%; ở chiều ngược lại, doanh nghiệp nhà nước giảm 0,13%. Tính chung 11 tháng, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tăng 4,06% (khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 1,54%, khu vực doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 5,82%).  

3. Đầu tư phát triển

Vốn đầu tư phát triển trên địa bàn 11 tháng năm 2025 tăng trưởng còn thấp, chưa đạt được như kế hoạch đề ra; ước tính đạt 15.573,51 tỷ đồng, tăng 0,65% so với cùng kỳ năm trước, đạt 55,72% kế hoạch (Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý giảm 8,08% so với cùng kỳ năm trước và đạt 84,67% kế hoạch).

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý tháng 11 năm 2025 ước đạt 379,64 tỷ đồng, tăng 9,52% so với tháng trước, giảm 4,79% so với cùng kỳ năm trước. Bao gồm: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 354,81 tỷ đồng, tăng 9,78% và giảm 7,82% ; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 24,83 tỷ đồng , tăng 6,05% và tăng 79,62%. 

Tính chung 11 tháng, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý đạt 3.137,91 tỷ đồng, giảm 8,08% so với cùng kỳ năm trước, đạt 84,67% kế hoạch. Bao gồm: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 2.974,24 tỷ đồng, giảm 10,43%, đạt 84,74% kế hoạch; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 163,67 tỷ đồng, tăng 75,75%, đạt 83,4% kế hoạch.

Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh tháng 11 năm 2025 ước đạt 1.767,01 tỷ đồng, tăng 7,11% so với tháng trước, tăng 5,19% so với cùng kỳ năm trước. Bao gồm: Vốn Nhà nước trên địa bàn đạt 693,55 tỷ đồng, tăng 7,55% và giảm 7,52% (Vốn Trung ương quản lý đạt 253,64 tỷ đồng, tăng 5,21% và giảm 18,44%; vốn địa phương quản lý đạt 439,91 tỷ đồng, tăng 8,95% và 0,22%); vốn ngoài Nhà nước đạt 1.073,46 tỷ đồng, tăng 6,83% và 15,44%.

Tính chung 11 tháng, vốn đầu tư phát triển toàn xã hội ước đạt 15.573,51 tỷ đồng, tăng 0,65% so với cùng kỳ năm trước, đạt 55,72% kế hoạch. Bao gồm: Vốn Nhà nước trên địa bàn đạt 5.958,59 tỷ đồng, giảm 15,25%, đạt 46,86% kế hoạch (vốn Trung ương quản lý đạt 2.320,05 tỷ đồng, giảm 28,52%, đạt 27,47% kế hoạch; vốn địa phương quản lý đạt 3.638,54 tỷ đồng, giảm 3,87%, đạt 85,22% kế hoạch); vốn ngoài Nhà nước đạt 9.614,91 tỷ đồng, tăng 13,89%, đạt 63,12% kế hoạch.

4. Thu, chi ngân sách Nhà nước

Thu ngân sách Nhà nước 11 tháng năm 2025 ước tăng 55,45% so với cùng kỳ năm trước; chi ngân sách Nhà nước ước tăng 23,57%, đảm bảo các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý nhà nước, cũng như chi trả kịp thời cho các đối tượng theo quy định.

a) Thu ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước tháng 11 năm 2025 ước đạt 203,83 tỷ đồng. Lũy kế tổng thu ngân sách Nhà nước 11 tháng đạt 2.171,57 tỷ đồng, tăng 55,45% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó:

- Thu nội địa tháng 11 năm 2025 ước đạt 203,25 tỷ đồng. Lũy kế 11 tháng, ước đạt 1.788,37 tỷ đồng (chiếm 82,35%), tăng 45,83% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Thu từ doanh nghiệp nhà nước ước đạt 289,77 tỷ đồng (chiếm 13,34%), tăng 19,34%; thu từ công, thương nghiệp ngoài quốc doanh ước đạt 447,11 tỷ đồng (chiếm 20,59%), tăng 19,43%; các khoản thu về nhà, đất ước đạt 518,69 tỷ đồng (chiếm 23,89%), tăng gần 2,4 lần.

- Thu cân đối hoạt động xuất nhập khẩu tháng 11 năm 2025 ước đạt 0,19 tỷ đồng. Lũy kế 11 tháng, ước đạt 16,7 tỷ đồng (chiếm 0,77%), giảm 22,4% so với cùng kỳ năm trước. 

b) Chi ngân sách Nhà nước

Tổng chi ngân sách Nhà nước tháng 11 năm 2025 ước đạt 1.554,74 tỷ đồng. Lũy kế 11 tháng ước đạt 16.885,01 tỷ đồng, tăng 23,57% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Chi đầu tư phát triển đạt 3.964,07 tỷ đồng (chiếm 23,48%), giảm 3,54%; chi thường xuyên đạt 12.913,57 tỷ đồng (chiếm 76,48%), tăng 35,29%.

5. Thương mại, dịch vụ, vận tải

a) Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 

Hoạt động thương mại và dịch vụ tháng 11 tiếp tục duy trì mức tăng trưởng khá, các hoạt động mua sắm, ăn uống, du lịch, lưu trú và các loại hình dịch vụ vui chơi, giải trí diễn ra sôi động, góp phần thúc đẩy tổng cầu tiêu dùng, với tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 17,08% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 11 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 12,59% so với cùng kỳ năm trước.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 11 năm 2025 ước đạt 2.492,05 tỷ đồng, tăng 0,84% so với tháng trước, tăng 17,08% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 11 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 26.149,96 tỷ đồng, tăng 12,59% so với cùng kỳ năm trước.

* Bán lẻ hàng hoá 

Doanh thu tháng 11/2025 ước đạt 2.057,79 tỷ đồng, tăng 0,76% so với tháng trước, tăng 15,99% so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng, tình hình hoạt động bán lẻ hàng hóa duy trì đà tăng trưởng ổn định, nhiều nhóm ngành hàng tiếp tục tăng trưởng so với tháng trước và cùng kỳ. Các hoạt động mua sắm, ăn uống, du lịch, lưu trú và các loại hình dịch vụ vui chơi, giải trí diễn ra sôi động, góp phần thúc đẩy tổng cầu tiêu dùng và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Trong đó: Hàng lương thực, thực phẩm tăng 0,4% và 16,68%; hàng may mặc tăng 1,22% và 19,82%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 0,27% và 6,77%; vật phẩm, văn hóa, giáo dục tăng 0,95% và 18,41%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 1,3% và 17,62%; ô tô con tăng 0,61% và 7,36%; phương tiện đi lại (trừ ô tô) tăng 0,67% và 6,8%; xăng, dầu các loại tăng 1,07% và 21,67%; nhiên liệu khác 1,03% và tăng 25,23%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 1,15%, tăng 17,63%; hàng hóa khác tăng 0,71% và 17,87%; dịch vụ sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác tăng 1,35%, tăng 18,11%. 

Tính chung 11 tháng, ước đạt 21.448,57 tỷ đồng, tăng 12,52% so với cùng kỳ và tăng ở tất cả các ngành hàng, tăng cao ở một số nhóm: Xăng, dầu các loại tăng 23,66%; nhiên liệu khác tăng 26,38%; dịch vụ sửa chữa xe có động cơ, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác tăng 20,21%; vật phẩm văn hóa, giáo dục tăng 15,63%; hàng may mặc tăng 14,5%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 12,98%.

* Dịch vụ lưu trú, ăn uống: Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng 11 năm 2025 ước đạt 116,05 tỷ đồng, tăng 1,01% so với tháng trước và tăng 31,1% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 11 tháng, đạt 1.338,29 tỷ đồng, tăng 5,92% so cùng kỳ năm trước, bao gồm: Dịch vụ lưu trú đạt 169,36 tỷ đồng, tăng 10,24%; dịch vụ ăn uống đạt 1.168,93 tỷ đồng, tăng 5,32%.

* Dịch vụ khác: Doanh thu một số ngành dịch vụ khác tháng 11 năm 2025 ước tính đạt 317,65 tỷ đồng, tăng 1,31% so với tháng trước, tăng 19,64% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 11 tháng, đạt 3.358,25 tỷ đồng, tăng 15,99% so với cùng kỳ năm trước. 

b) Giá cả

* Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)

Trong tháng, giá nhiều mặt hàng thực phẩm tiếp tục tăng; giá bán các loại gạo tăng do thời gian gối vụ dài, giá khoai tăng cao do trái vụ nguồn cung giảm; thời tiết chuyển mùa và các hoạt động dịp lễ... cũng góp thêm yếu tố làm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 11 năm 2025 tăng 0,5% so với tháng trước, so với cùng kỳ năm trước tăng 1,63% và so kỳ gốc năm 2024 tăng 4,13%. Tính chung 11 tháng, CPI giảm 0,17% so với cùng kỳ năm trước.

Trong mức tăng 0,5% của CPI tháng 11 năm 2025 so với tháng trước, có 8 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng, 02 nhóm hàng hoá có chỉ số giá giảm và 01 nhóm có chỉ số bình ổn. 

Các nhóm tăng giá chủ yếu do nhu cầu tiêu dùng theo mùa, thời tiết lạnh và một số yếu tố giá cả thị trường. Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,69% ; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,35%, nổi bật là nước giải khát có ga tăng 1,11%, rượu mạnh tăng 0,18% và rượu vang tăng 0,67%; nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,68%, chủ yếu do thời tiết lạnh làm nhu cầu mua sắm các mặt hàng giữ ấm tăng; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,27%; nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,18%, hầu hết các loại thuốc điều trị như giảm đau, hạ sốt, chống viêm, thuốc xương khớp, nội tiết, hô hấp và vitamin đều có xu hướng tăng do thời tiết lạnh làm gia tăng bệnh tật, đặc biệt ở trẻ em và người cao tuổi; nhóm giao thông tăng 1,47%, chủ yếu do giá xăng dầu được điều chỉnh tăng ; nhóm thông tin và truyền thông tăng nhẹ 0,05%, còn nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,14%.

Các nhóm có chỉ số giảm gồm nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,28% (với vật liệu bảo dưỡng nhà ở giảm 0,24%, nước sinh hoạt giảm 0,52% và điện sinh hoạt giảm 1,13%); nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm nhẹ 0,03% (du lịch trong nước giảm 1,41% và du lịch nước ngoài giảm 2,27%).

Nhóm giáo dục giữ ổn định so với tháng trước.

CPI bình quân 11 tháng giảm 0,17% so với bình quân cùng kỳ năm trước. Trong đó: 02 nhóm hàng có chỉ số giá giảm (giao thông giảm 4,58%; giáo dục giảm 22,99%) và 09 nhóm hàng có chỉ số tăng (hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,22%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,17%; may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 1,31%; nhà ở, điện nước, chất đốt và VLXD tăng 1,17%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,36%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 4%; thông tin và truyền thông tăng 0,04%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,05%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,96%).

* Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ 

Chỉ số giá vàng tháng 11 tăng 3,55% so với tháng trước, tăng 72,38% so với cùng kỳ năm trước, tăng 89,16% so với kỳ gốc 2024. Tính chung 11 tháng, chỉ số giá vàng tăng 41,95% so với cùng kỳ năm trước.

Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 11 giảm 0,03% so với tháng trước, tăng 3,54% so với cùng kỳ năm trước, tăng 6,32% so với kỳ gốc 2024. Tính chung 11 tháng, chỉ số giá đô la Mỹ tăng 3,86% so với cùng kỳ năm trước.

* Giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng nông, lâm nghiệp, thủy sản và giá nguyên, nhiên, vật liệu đầu vào của sản xuất: Chỉ số có mức tăng, giảm tương ứng với giá tiêu dùng trên phạm vi địa bàn toàn tỉnh Điện Biên.

c) Hoạt động Vận tải

Tháng 11, hoạt động vận tải và kho bãi trên địa bàn tiếp tục tăng trưởng nhờ sản xuất kinh doanh sôi động và nhu cầu vận chuyển nông sản theo mùa vụ, đặc biệt là các sản phẩm OCOP. Nhu cầu đi lại phục vụ công việc và các sự kiện cuối năm tăng. So với cùng kỳ năm trước vận chuyển hành khách tháng 11 tăng 14,52% và luân chuyển tăng 13,29%; vận chuyển hàng hóa tăng 16,36% và luân chuyển tăng 16,48%.

Tổng doanh thu của hoạt động vận tải, kho bãi ước thực hiện tháng 11 năm 2025 đạt 177,41 tỷ đồng, tăng 0,41% so với tháng trước và tăng 15,74% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 11 tháng, đạt 1.862,8 tỷ đồng, tăng 14,43% so cùng kỳ năm trước (bao gồm: Vận tải hành khách đạt 368,37 tỷ đồng, tăng 1,88%; vận tải hàng hóa đạt 1.478,3 tỷ đồng, tăng 18,24%; hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 16,12 tỷ đồng, tăng 0,48%). 

Vận tải hành khách tháng 11 năm 2025 ước đạt 312,98 nghìn lượt khách vận chuyển, tăng 0,41% so với tháng trước, tăng 14,52% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển 48,98 triệu HK.km, tăng 0,41% và tăng 13,29%. Tính chung 11 tháng, vận tải hành khách ước đạt 3.310,73 nghìn hành khách vận chuyển, tăng 2,03% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển 519,15 triệu HK.km, tăng 1,6%.

Vận tải hàng hóa tháng 11 năm 2025 ước đạt 915,13 nghìn tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 0,41% so với tháng trước và tăng 16,36% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển 41,87 triệu tấn.km, tăng 0,41% so với tháng trước và tăng 16,48% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 11 tháng, vận tải hàng hóa đạt 9.615,44 nghìn tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 17,81% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển 438,67 triệu tấn.km, tăng 18,25%.

II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI

1. Tình hình đời sống dân cư

Trong tháng, đời sống dân cư cơ bản ổn định; thời tiết thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh và phát triển dịch vụ. Nhu cầu mua sắm, tiêu dùng tăng do nhiều sự kiện được tổ chức trên địa bàn như các hoạt động kỷ niệm Ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11, Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc và Đại hội Thể dục thể thao. Các cơ sở sản xuất, kinh doanh chủ động mở rộng dịch vụ thương mại, du lịch, góp phần duy trì tăng trưởng ở các ngành. Công tác an sinh xã hội được thực hiện đầy đủ, không phát sinh thiếu đói trong tháng. Tính chung 11 tháng, toàn tỉnh có 9.745 hộ thiếu đói giáp hạt (giảm 217 hộ so với cùng kỳ), với 43.868 khẩu (giảm 1.072 khẩu); tổng số gạo hỗ trợ 846,46 tấn.

2. Y tế

a) Tình hình dịch bệnh và công tác phòng, chống dịch

Tình hình dịch bệnh: rong tháng, tỉnh ghi nhận 01 ổ dịch Lỵ trực trùng tại xã Nậm Kè với 152 ca mắc, 01 ca tử vong; 151 ca đã điều trị khỏi. Lũy tích đến 15/11/2025, toàn tỉnh có 04 ổ dịch (02 Sởi, 01 Thủy đậu, 01 Lỵ trực trùng) với 512 ca mắc, 01 ca tử vong; 511 ca đã khỏi.

Các bệnh truyền nhiễm gây dịch khác ổn định; không ghi nhận ca sốt rét và sốt xuất huyết trong tháng. Tính chung 11 tháng, phát hiện 01 ca sốt xuất huyết nội sinh tại xã Sín Chải và 02 ca ngoại lai.

Công tác phòng chống dịch: Ngành Y tế tiếp tục triển khai đầy đủ, đồng bộ các biện pháp phòng chống dịch theo kế hoạch năm 2025; tăng cường giám sát bệnh truyền nhiễm, duy trì đội cơ động chống dịch và chuẩn bị đầy đủ thuốc, hóa chất, vật tư để ứng phó tình huống khẩn cấp. Công tác báo cáo dịch và truyền thông được thực hiện kịp thời, góp phần nâng cao nhận thức người dân và hạn chế dịch lây lan.

b) Tình hình lây nhiễm HIV/AIDS

Tình hình nhiễm HIV/AIDS trên địa bàn tỉnh tính đến ngày 30/10/2025, có 45/45 xã, phường có người nhiễm HIV. Luỹ tích toàn tỉnh có 7.870 ca nhiễm HIV, trong đó: Có 52 ca mắc mới trong năm; Số chuyển AIDS luỹ tích 5.445 ca (không có ca AIDS mắc mới); số tử vong lũy tích 4.235 ca, trong đó: Tử vong mới trong năm là 49 ca; số còn sống quản lý được 3.415 ca đạt 93,9% người nhiễm HIV trên địa bàn. Tỷ lệ nhiễm HIV còn sống/dân số 0,51%.

c) Tình hình vệ sinh an toàn thực phẩm 

Trong tháng, ngành Y tế tăng cường truyền thông và kiểm tra, giám sát an toàn thực phẩm (ATTP) tại các cơ sở sản xuất, chế biến và kinh doanh dịch vụ ăn uống; đẩy mạnh quản lý ATTP và phòng ngừa thực phẩm giả.

Toàn tỉnh thành lập 13 đoàn kiểm tra, kiểm tra 218 cơ sở thực phẩm và giám sát 151 cơ sở; kết quả 100% cơ sở đạt yêu cầu ATTP. Các Trung tâm Y tế tổ chức 03 đợt giám sát, hướng dẫn phòng ngộ độc thực phẩm tại cơ sở sản xuất, kinh doanh, bếp ăn tập thể và 01 đợt giám sát tại cơ sở thức ăn đường phố.

Công tác thẩm định, cấp giấy chứng nhận ATTP được thực hiện thường xuyên. Trong tháng, Chi cục ATVSTP tiếp nhận 15 hồ sơ cấp giấy chứng nhận; tuyến xã ký cam kết ATTP cho 07 cơ sở. Lũy tích toàn tỉnh có 2.070/2.123 cơ sở được cấp giấy chứng nhận hoặc ký cam kết (97,5%).

Trong tháng, không ghi nhận vụ ngộ độc thực phẩm. Lũy tích 11 tháng xảy ra 03 vụ với 21 ca mắc, 02 ca tử vong; 100% vụ việc được điều tra và xử lý kịp thời.

3. Giáo dục - Đào tạo 

Trong tháng, Sở Giáo dục và Đào tạo tiếp tục triển khai các nhiệm vụ trọng tâm của ngành; rà soát, đánh giá mạng lưới cơ sở giáo dục và hoàn thiện hồ sơ phục vụ Lễ công bố Quyết định thành lập Phân hiệu Đại học Thái Nguyên tại tỉnh Điện Biên; hỗ trợ nhà đầu tư thành lập Tổ hợp giáo dục FPT. Ngành khởi công 09 dự án xây dựng trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới; tổ chức thành công Đại hội TDTT ngành GDĐT lần thứ VIII và các hoạt động kỷ niệm 43 năm Ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11.

Công tác chuyên môn được triển khai đồng bộ ở tất cả các cấp học; tăng cường kiểm tra, đôn đốc cơ sở giáo dục; thực hiện các chuyên đề nâng cao chất lượng giảng dạy; triển khai chương trình Làm quen tiếng Anh cho trẻ mẫu giáo và Chương trình hỗ trợ GDMN vùng khó khăn. Các cấp học duy trì sinh hoạt chuyên môn theo cụm, xây dựng trường chuẩn quốc gia, thực hiện phổ cập giáo dục và bồi dưỡng giáo viên. Ngành tổ chức “Tuần lễ Hưởng ứng học tập suốt đời năm 2025” và chuẩn bị điều kiện tổ chức kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp tỉnh năm học 2025-2026.

4. Hoạt động văn hóa, thông tin, Thể dục thể thao và du lịch

a) Sự kiện đặc biệt

Trong tháng, Trung tâm Văn hóa, Điện ảnh chủ trì tổ chức thành công nhiều hoạt động như: Chương trình văn nghệ tại Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi năm 2025; chào mừng Đại hội đại biểu Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Khối các Cơ quan và Doanh nghiệp tỉnh Điện Biên lần thứ X; Ngày hội Việc làm tỉnh Điện Biên… với nhiều hoạt động đặc sắc, tạo không khí vui tươi, phấn khởi trong Nhân dân. 

b) Hoạt động quản lý Nhà nước và văn hóa, văn nghệ

Trong tháng 11, công tác tuyên truyền được đẩy mạnh với nhiều hình thức phong phú, tập trung vào các sự kiện lớn của Trung ương và của tỉnh như Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ XI, cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031; đồng thời quảng bá tiềm năng du lịch Di tích Đài quan sát Chiến dịch Điện Biên Phủ và cảnh quan núi Pu Tó Cọ (xã Mường Phăng).

Phong trào nghệ thuật quần chúng tiếp tục phát triển, gắn với các ngày lễ lớn và sự kiện chính trị - văn hóa của tỉnh; tổ chức hoạt động văn hóa, văn nghệ tại sân hành lễ Tượng đài Chiến thắng Điện Biên Phủ.

Công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa được duy trì. Trong tháng, các bảo tàng và điểm di tích đón 34.102 lượt khách, trong đó 1.025 khách nước ngoài; lũy kế 11 tháng đạt 356.816 lượt khách (đạt 79,5% kế hoạch), gồm 6.909 lượt khách nước ngoài (vượt 18,1% kế hoạch).

c) Hoạt động thể dục thể thao

Phong trào TDTT cho mọi người: Trong tháng, phong trào thể dục thể thao quần chúng tiếp tục được duy trì và phát triển sâu rộng, thu hút đông đảo Nhân dân tham gia. Đại hội TDTT các cấp, các ngành được tổ chức sôi động trên địa bàn tỉnh. Duy trì tỷ lệ số người tham gia luyện tập thường xuyên ít nhất 01 môn thể thao là 34,92% tổng số dân trong tỉnh; tỷ lệ số gia đình thể thao là 23,93%, có 459 câu lạc bộ thể thao cơ sở trong toàn tỉnh.

Thể thao thành tích cao: Chuẩn bị các nội dung tham gia Hội thi thể thao các dân tộc thiểu số toàn quốc lần thứ XIV, khu vực I năm 2025. 

d) Lĩnh vực du lịch

Ngành du lịch tiếp tục là điểm sáng và đạt được nhiều kết quả tích cực. Công tác xúc tiến, quảng bá du lịch tiếp tục được triển khai đồng bộ, đa dạng về hình thức, nội dung, gắn với các sự kiện chính trị, văn hóa, thể thao lớn của tỉnh.

Hoạt động quảng bá, xúc tiến, thông tin du lịch: Tổ chức trưng bày, quảng bá giới thiệu du lịch tỉnh Điện Biên tại nhiều sự kiện. Tư vấn, hỗ trợ, cung cấp thông tin cho gần 30.057 lượt khách du lịch, 13 lượt doanh nghiệp du lịch tìm hiểu thông tin về du lịch Điện Biên. 

Tháng 11/2025, lượng khách du lịch đến Điện Biên đạt 120.000 lượt, trong đó 1.586 lượt khách du lịch quốc tế; tổng thu từ hoạt động du lịch đạt 220,2 tỷ đồng. Tính chung 11 tháng, lượng khách du lịch đạt 1,33 triệu lượt, đạt 91,8% so với kế hoạch năm (khách quốc tế đạt trên 12.202 lượt); tổng thu từ hoạt động du lịch đạt 2.424,1 tỷ đồng, đạt 101% kế hoạch năm.

5. Tai nạn giao thông, cháy nổ, vi phạm môi trường 

a) Tai nạn giao thông

Từ 15/9/2025 đến 14/10/2025, trên địa bàn toàn tỉnh đã xảy ra 9 vụ tai nạn giao thông làm chết 04 người, bị thương 10 người . Hư hỏng 02 ô tô, 10 mô tô, xe máy, 01 xe đạp điện; thiệt hại tài sản ước tính 76,5 triệu đồng. Nguyên nhân do người điều khiển sử dụng rượu, bia, chất kích thích có cồn, ma tuý; vượt xe sai quy định và vi phạm quy định về tốc độ.

Lũy kế từ ngày 15/11/2024 đến ngày 14/10/2025, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 73 vụ tai nạn và va chạm giao thông, làm 25 người chết, 71 người bị thương. So cùng kỳ năm trước: Số vụ tai nạn giảm 13,1%; số người chết giảm 13,79%, số người bị thương giảm 16,47%. Nguyên nhân do vi phạm tốc độ khi điều khiển phương tiện, người đi bộ sang đường sai quy định, vượt xe không đúng quy định, đi sai làn đường, phần đường, vi phạm về nồng độ cồn.

b) Cháy nổ

Từ 15/9/2025 đến 14/10/2025, trên địa bàn tỉnh xảy ra 02 vụ cháy , không có thiệt hại về người, ước giá trị thiệt hại khoảng 114 triệu đồng. Nguyên nhân 02 vụ đang điều tra làm rõ.

Luỹ kế từ ngày 15/11/2024 đến ngày 14/10/2025, trên địa bàn tỉnh xảy ra 19 vụ cháy, tăng 46,15% so cùng kỳ năm trước; không có thiệt hại về người, ước thiệt hại khoảng 2.933,3 triệu đồng. Nguyên nhân cháy là do sơ xuất trong quá trình sử dụng nguồn lửa và sự cố thiết bị điện, do vi phạm về quy định PCCC và 02 vụ đang được điều tra làm rõ.

c) Tình hình vi phạm môi trường

Trong tháng 11/2025, các cơ quan chức năng đã phát hiện 12 vụ vi phạm môi trường và xử lý 14 vụ với tổng số tiền phạt 71,4 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước số vụ vi phạm giảm 70%; số vụ đã được xử lý giảm 46,15%; tổng số tiền xử phạt giảm 65,51%.

Tính chung 11 tháng, đã phát hiện 373 vụ vi phạm môi trường và xử lý 399 vụ với tổng số tiền phạt là 2.190,61 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước số vụ vi phạm giảm 16,74%; số vụ đã được xử lý tăng 2,31%; tổng số tiền xử phạt tăng 5,62%. Các vụ vi phạm môi trường thuộc lĩnh vực lâm nghiệp, khoáng sản và ô nhiễm môi trường. 

6. Tình hình thiệt hại do thiên tai và hỗ trợ thiên tai 

Trong tháng báo cáo, trên địa bàn tỉnh không xảy ra thiệt hại về thiên tai. Tính chung 11 tháng, trên địa bàn tỉnh xảy ra 26 đợt thiên tai làm 14 người chết, 19 người bị thương; 4.144 con gia súc, gia cầm bị chết và cuốn trôi; 1.169,23 ha lúa và 373,98 ha rau màu bị hư hỏng; 228 nhà bị sập/cuốn trôi và hư hỏng; thiệt hại về giao thông, thủy lợi, trường học và các thiệt hại khác. Tổng giá trị thiệt hại về tài sản ước tính 1.378,48 tỷ đồng.

Tác giả bài viết: Thống kê tỉnh Điện Biên

Ghi rõ nguồn "Thống kê tỉnh Điện Biên" hoặc "https://thongkedienbien.nso.gov.vn" khi phát hành lại thông tin từ các nguồn này.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây