I. KINH TẾ
1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
Tháng Năm, một số xã, phường bắt đầu thu hoạch lúa đông xuân trên những diện tích chín sớm. Đàn gia súc, gia cầm phát triển ổn định, tình hình dịch bệnh cơ bản được kiểm soát. Công tác quản lý, bảo vệ và phòng, chống cháy rừng được triển khai thực hiện tập trung, nghiêm túc. Hoạt động nuôi trồng và khai thác thuỷ sản tiếp tục duy trì đà tăng trưởng khá.
a) Nông nghiệp
* Trồng trọt
Lúa đông xuân: Tính đến ngày 20/5/2026, toàn tỉnh gieo cấy được 9.816,1 ha, tăng 0,54% so với cùng kỳ năm trước, vượt 1,05% kế hoạch tỉnh giao. Trong tháng, người dân đã bắt đầu tiến hành thu hoạch diện tích lúa chín sớm với 1.496,1 ha, tập trung chủ yếu ở các xã Thanh Nưa, Thanh Yên, Mường Ảng, Búng Lao và phường Mường Thanh nhằm ứng phó với thời tiết mưa giông, gió lốc đầu mùa.
Các loại cây hằng năm khác: Diện tích gieo trồng toàn tỉnh cộng dồn tính đến thời điểm 20/5/2026 ước đạt 21.331,1 ha, giảm 7,24% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngô 17.162,91 ha, giảm 9,41% ; khoai lang 315,55 ha, tăng 18,9% ; đậu tương 194,5 ha, tăng 51,36%; lạc 495,75 ha, giảm 12,33%; rau các loại 3.040,3 ha, tăng 2,32%; đậu các loại 122,1 ha, tăng 0,58%.
Cây lâu năm: Các địa phương trong tỉnh tập trung huy động tối đa nhân lực, khẩn trương đào hố trồng cây cà phê, mắc ca để sẵn sàng xuống giống đúng lịch thời vụ. Tiếp tục thu hoạch sản phẩm trong kỳ phục vụ nhu cầu thị trường như vú sữa, chuối, dứa…
Tình hình sâu, bệnh hại trên cây trồng: Tổng diện tích nhiễm sinh vật gây hại là 3.864,98 ha , giảm 561,5 ha so cùng kỳ năm trước; diện tích phòng trừ 3.927 ha.
* Chăn nuôi
Trong tháng, tình hình chăn nuôi tương đối ổn định, công tác phòng, chống dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm được được kiểm soát.

Dự ước số đầu con và sản lượng thịt hơi xuất chuồng trong tháng và so với cùng kỳ năm trước: Trâu 880 con, tăng 3,53%; bò 1.140 con, tăng 3,64%; lợn 23.700 con, tăng 0,28%; thịt gia cầm 471 tấn, tăng 1,95%; trứng 7.524,4 nghìn quả, tăng 1,02%.

Tình hình thiệt hại do dịch bệnh : Trong tháng, dịch tả lợn Châu Phi còn xảy ra tại 21/45 xã, phường với tổng số lợn thiệt hại 1.382 con. Thực hiện tiêm phòng được 3.046 liều bệnh dại; kiểm dịch 4 con ngựa xuất tỉnh; kiểm soát giết mổ 318 con trâu, bò, 3.932 con lợn và 10.358 con gia cầm.
b) Lâm nghiệp
Trong tháng, diện tích rừng trồng được chăm sóc là 848,39 ha, tăng 0,64% so với cùng kỳ. Dự ước khai thác được 756 m3 gỗ, tăng 1,07% so với thực hiện cùng kỳ năm trước; củi khai thác được 70.924 ste, tăng 1,48%. Tính chung năm tháng đầu năm, sản lượng gỗ khai thác đạt 3.533 m3, tăng 0,56%; sản lượng củi khai thác đạt 342.090 ste, tăng 1,8%.
Diện tích rừng bị thiệt hại trong tháng là 25,24 ha rừng, tăng 166,53% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm tháng đầu năm, có 51,11 ha rừng bị thiệt hại, giảm 37,61% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích rừng bị thiệt hại do phá rừng chiếm 67,69%.
Trong tháng, toàn tỉnh xảy ra 56 vụ vi phạm luật Lâm nghiệp , tổng số tiền thu nộp ngân sách 380,22 triệu đồng, lâm sản tịch thu 30,31 m3.
c) Thủy sản
Nuôi trồng và khai thác thuỷ sản trên địa bàn tỉnh tiếp tục đà tăng trưởng khá, dự ước toàn tỉnh có 2.838,82 ha diện tích nuôi trồng thủy sản, tăng 3,29% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích nuôi cá 2.837,32 ha. Mô hình nuôi cá lồng bè trên địa bàn tỉnh được duy trì với tổng thể tích 41.585 m³, mô hình nuôi cá hồi bằng bể bồn tại xã Quài Tở với thể tích 600 m3.
Sản lượng thủy sản tháng 5/2026 ước đạt 447,16 tấn, tăng 4,59% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: Nuôi trồng đạt 422,29 tấn, tăng 4,65%; khai thác đạt 24,87 tấn, tăng 3,58%. Tính chung năm tháng đầu năm, sản lượng thủy sản ước đạt 2.227,21 tấn, tăng 3,97% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: Nuôi trồng đạt 2.095,02 tấn, tăng 4,02%; khai thác đạt 132,19 tấn, tăng 3,19%.
Sản lượng thủy sản nuôi trồng trong tháng ước đạt 422,29 tấn, tăng 4,65% so với thực hiện cùng kỳ năm trước, bao gồm: Cá đạt 416,75 tấn, tăng 4,66%; tôm đạt 0,99 tấn, tăng 3,13%; thủy sản khác đạt 4,55 tấn, tăng 4,6%. Tính chung năm tháng đầu năm, sản lượng thủy sản ước đạt 2.095,02 tấn, tăng 4,02% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Cá đạt 2.067,42 tấn, tăng 4,02%; tôm đạt 5,46 tấn, tăng 3,8%; thủy sản khác đạt 22,14 tấn, tăng 4,48%.
Sản lượng thuỷ sản khai thác trong tháng ước đạt 24,87 tấn, tăng 3,58% so với thực hiện cùng kỳ năm trước, bao gồm: Cá đạt 17,87 tấn, tăng 3,59%; tôm đạt 1,98 tấn, tăng 1,02%; thủy sản khác 5,02 tấn, tăng 4,58%. Tính chung năm tháng đầu năm, sản lượng thủy sản khai thác ước đạt 132,19 tấn, tăng 3,19% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Cá đạt 99,45 tấn, tăng 3,17%; tôm đạt 9,42 tấn, tăng 1,84%; thủy sản khác đạt 23,32 tấn, tăng 3,83%.
2. Sản xuất công nghiệp
Sản xuất công nghiệp tháng Năm năm 2026 trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực, hoạt động sản xuất diễn ra ổn định, nhiều ngành chủ lực phục hồi và mở rộng quy mô, IIP ước tăng 21,34% so với tháng trước, so với cùng kỳ năm trước tăng 17,95%; tính chung năm tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 14,9% so với cùng kỳ năm trước.
Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng 5 năm 2026 ước tính tăng 21,34% so với tháng trước và tăng 17,95% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành khai khoáng tăng 5,32% và tăng 7,16%; ngành chế biến, chế tạo tăng 2,5% và tăng 19,64%; sản xuất và phân phối điện tăng 115,25% và tăng 17,82%, cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,71% và tăng 12,53%.
Nhìn chung, sản xuất công nghiệp tháng 5/2026 của tỉnh tăng trưởng tích cực nhờ điều kiện thời tiết thuận lợi cho sản xuất thủy điện, nhu cầu vật liệu xây dựng và tiêu dùng tăng, cùng với sự phục hồi của hoạt động sản xuất chế biến, chế tạo. Tuy nhiên, quy mô công nghiệp của tỉnh còn nhỏ, phụ thuộc nhiều vào thủy điện và khai thác tài nguyên nên tính ổn định và khả năng tăng trưởng bền vững vẫn còn hạn chế.

Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn và duy trì mức tăng trưởng khá, là động lực chính thúc đẩy tăng trưởng công nghiệp của tỉnh nhờ hoạt động sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến nông sản và thực phẩm ổn định. Ngành sản xuất và phân phối điện tăng mạnh do bước vào đầu mùa mưa, lưu lượng nước về các hồ chứa thủy điện tăng cao, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà máy đẩy mạnh phát điện. Bên cạnh đó, ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải duy trì hoạt động ổn định, đáp ứng tốt nhu cầu sinh hoạt và sản xuất trên địa bàn, góp phần giữ mức tăng trưởng khá cho toàn ngành công nghiệp.
Tính chung năm tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước tăng 14,9% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2025 tăng 9,82%). Trong đó, ngành khai khoáng tăng 7,43% (cùng kỳ năm 2025 tăng 19,81%); ngành chế biến, chế tạo tăng 18,19% (cùng kỳ năm 2025 tăng 6,54%); ngành sản xuất và phân phối điện tăng 8,16% (cùng kỳ năm 2025 tăng 21,93%); ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 10,92% (cùng kỳ năm 2025 giảm 1,23%).
Chỉ số sản xuất năm tháng đầu năm 2026 của một số ngành công nghiệp cấp II tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc và thiết bị tăng 33,23%; sản xuất đồ uống tăng 30,85%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 21,18%; dệt tăng 20,41%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 18,06%; sản xuất trang phục tăng 18,01%; in, sao chép bản ghi các loại tăng 17,82%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 16,69%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 11,14%...Ở chiều ngược lại, công nghiệp chế biến, chế tạo khác giảm 14,05%.
Một số sản phẩm công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong năm tháng đầu năm 2026 tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Nước không uống được tăng 24,14%; cửa ra vào, cửa sổ bằng sắt, théo tăng 23,05%; thiết bị dùng cho dàn giáo, ván khuôn, vật chống hoặc cột trụ chống hầm lò bằng sắt, thép, nhôm tăng 22,35%; giường bằng gỗ các loại tăng 21,79%; sản phẩm in khác (quy khổ 13cm x 19cm) tăng 14,85%; các hợp chất từ cao su tổng hợp và cao su tự nhiên và các loại như nhựa tự nhiên tương tự, ở dạng nguyên sinh hoặc tấm lỏ hoặc dải tăng 11%; dịch vụ thu gom rác thải không độc hại có thể tái chế tăng 10,34%; đá xây dựng khác tăng 9,4%. Ở chiều ngược lại, dịch vụ sản xuất đồ kim hoàn và chi tiết liên quan giảm 14,36%.

Nhìn chung, hoạt động sản xuất công nghiệp năm tháng đầu năm 2026 trên địa bàn tỉnh Điện Biên duy trì xu hướng tăng trưởng tích cực, chỉ số IIP ước tăng 14,90% so với cùng kỳ năm trước, là mức tăng cao nhất trong giai đoạn 2022–2026. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là động lực tăng trưởng chủ yếu với mức tăng 18,19%, nhờ các cơ sở sản xuất chế biến nông sản, thực phẩm và vật liệu xây dựng duy trì hoạt động ổn định, từng bước nâng cao năng lực sản xuất. Ngành sản xuất và phân phối điện duy trì tăng trưởng khá do điều kiện thủy văn thuận lợi cho các nhà máy thủy điện phát điện. Kết quả trên cho thấy hiệu quả từ các chính sách hỗ trợ sản xuất, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và thúc đẩy phát triển công nghiệp gắn với khai thác tiềm năng, lợi thế của địa phương.
Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 5/2026 giảm 0,93% so với tháng trước và tăng 15,73% so với tháng cùng kỳ năm trước, trong đó: Khu vực doanh nghiệp Nhà nước giảm 1,81% và tăng 35,59%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước giảm 0,09% và tăng 1,68%. Tính chung năm tháng đầu năm 2026, chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tăng 19,16% so với cùng kỳ năm trước (khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 42,04%, khu vực doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 2,82%).
3. Đầu tư
Trong tháng, UBND tỉnh đã lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, sâu sát các cấp, các ngành nghiêm túc thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp đẩy nhanh tiến độ thi công và giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công năm 2026, trong đó tập trung triển khai thực hiện 14 dự án trường nội trú liên cấp Tiểu học – THCS tại các xã biên giới. Vốn đầu tư phát triển trên địa bàn năm tháng đầu năm 2026 ước đạt 6.304,02 tỷ đồng, tăng 6,52% so với cùng kỳ năm trước (trong đó: Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 1.357,61 tỷ đồng, tăng 33,52%).
Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý tháng 5/2026 ước đạt 352,06 tỷ đồng, tăng 20,75% so với tháng trước, tăng 25,56% so với cùng kỳ năm trước. Bao gồm: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 352,06 tỷ đồng (chiếm 100%), tăng 20,75%, tăng 29,08%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã không phát sinh .
Tính chung năm tháng đầu năm, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 1.357,61 tỷ đồng, tăng 33,52% so với cùng kỳ năm trước, đạt 29,69% kế hoạch năm. Cụ thể: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 1.357,61 tỷ đồng, tăng 37,9%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã không phát sinh.

Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Điện Biên tháng 5/2026 ước đạt 1.442,86 tỷ đồng, tăng 10,1% so với tháng trước, tăng 4,05% so với cùng kỳ năm trước. Bao gồm: Vốn Nhà nước trên địa bàn đạt 518,56 tỷ đồng, tăng 17,64%, giảm 6,85% (vốn Trung ương quản lý đạt 124,64 tỷ đồng, tăng 14,61%, giảm 47,21%; vốn địa phương quản lý đạt 393,93 tỷ đồng, tăng 18,64%, tăng 22,88%); vốn ngoài Nhà nước đạt 924,29 tỷ đồng, tăng 6,28%, tăng 11,35%.
Tính chung năm tháng đầu năm, vốn đầu tư phát triển toàn xã hội ước đạt 6.304,02 tỷ đồng, tăng 6,52% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể: Vốn Nhà nước trên địa bàn đạt 2.109,66 tỷ đồng, giảm 10,47% (vốn Trung ương quản lý đạt 559,31 tỷ đồng, giảm 51,77%; vốn địa phương quản lý đạt 1.550,35 tỷ đồng, tăng 29,56%); vốn ngoài Nhà nước đạt 4.194,36 tỷ đồng, tăng 17,76%.
4. Thu, chi ngân sách Nhà nước
Thu ngân sách Nhà nước năm tháng đầu năm 2026 ước giảm 17,1% so với cùng kỳ năm trước; chi ngân sách Nhà nước ước giảm 4,03% so với cùng kỳ năm trước, đảm bảo cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, các khoản chi lương, thưởng, phụ cấp và chính sách an sinh xã hội.
a) Thu ngân sách Nhà nước
Tổng thu ngân sách Nhà nước tháng 5/2026 ước đạt 158,58 tỷ đồng. Lũy kế năm tháng đầu năm, ước đạt 790,04 tỷ đồng, giảm 17,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó:
- Thu nội địa tháng 5/2026 ước đạt 152,42 tỷ đồng; luỹ kế năm tháng đầu năm, ước đạt 777,23 tỷ đồng (chiếm 98,38%), tăng 10,72% so với cùng kỳ năm trước.
- Thu cân đối hoạt động xuất nhập khẩu tháng 5/2026 ước đạt 5,85 tỷ đồng; luỹ kế năm tháng đầu năm, ước đạt 10,31 tỷ đồng (chiếm 1,3%), tăng 159,23% so với cùng kỳ năm trước.
b) Chi ngân sách Nhà nước
Tổng chi ngân sách Nhà nước tháng 5/2026 ước đạt 1.891,19 tỷ đồng. Lũy kế năm tháng đầu năm, ước đạt 8.209,94 tỷ đồng, giảm 4,03% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Chi đầu tư phát triển năm tháng đầu năm đạt 2.842,48 tỷ đồng (chiếm 34,62%), tăng 23,74% so với cùng kỳ; chi thường xuyên đạt 5.364,98 tỷ đồng (chiếm 65,35%), giảm 14,2%.
5. Thương mại, dịch vụ, giá cả, vận tải
a) Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
Trong tháng, hoạt động thương mại và dịch vụ trên địa bàn tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực, cơ bản đáp ứng tốt nhu cầu tiêu dùng và sinh hoạt của người dân. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 4,9% so với tháng trước và tăng 12,25% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm tháng đầu năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 14,59% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả trên cũng cho thấy hiệu quả của các hoạt động xúc tiến thương mại, kích cầu tiêu dùng và phục hồi sản xuất, kinh doanh trên địa bàn. Đồng thời, nhu cầu tiêu dùng của người dân tiếp tục mở rộng không chỉ đối với các mặt hàng thiết yếu mà còn ở các dịch vụ phục vụ đời sống, vui chơi, giải trí và du lịch.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 5/2026 ước tính đạt 2.780,2 tỷ đồng, tăng 4,9% so với tháng trước, tăng 12,25% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm tháng đầu năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 13.724,47 tỷ đồng, tăng 14,59% so với cùng kỳ năm trước.

* Bán lẻ hàng hoá
Tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 5 năm 2026 ước đạt 2.040,05 tỷ đồng, tăng 5% so với tháng trước và tăng 12,56% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả này cho thấy hoạt động thương mại trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực; nguồn cung hàng hóa cơ bản ổn định, thị trường không xảy ra biến động lớn về giá cả và sức mua của người dân tiếp tục được cải thiện.
So với tháng trước, phần lớn các nhóm hàng đều ghi nhận mức tăng khá. Nhóm lương thực, thực phẩm tăng 8,20% và là nhóm đóng góp lớn nhất vào mức tăng chung, phản ánh nhu cầu tiêu dùng thiết yếu tiếp tục duy trì ở mức cao, đặc biệt trong thời điểm mùa hè, nhu cầu tiêu thụ thực phẩm, đồ uống và hàng tiêu dùng hằng ngày tăng lên. Nhóm gỗ và vật liệu xây dựng tăng 5,36%, cho thấy hoạt động xây dựng dân dụng, sửa chữa nhà ở và đầu tư cơ sở hạ tầng trên địa bàn tiếp tục diễn ra sôi động. Xăng, dầu các loại tăng 4,85%; nhiên liệu khác tăng 4,91% do nhu cầu đi lại, vận tải và sản xuất tăng trong thời điểm bước vào cao điểm mùa hè. Hàng may mặc tăng 3,66%; vật phẩm văn hóa, giáo dục tăng 3,01%, phản ánh nhu cầu mua sắm phục vụ sinh hoạt, học tập và tiêu dùng cá nhân của người dân tiếp tục cải thiện. Đây cũng là tín hiệu cho thấy tâm lý tiêu dùng đang dần ổn định hơn so với cùng kỳ năm trước.
Một số nhóm hàng có mức tăng thấp, nhưng tiếp tục duy trì xu hướng tích cực như: Đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 0,21%; phương tiện đi lại (trừ ô tô, kể cả phụ tùng) tăng 0,36%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 0,28%; hàng hóa khác tăng 0,45%. Nhóm ô tô con dưới 9 chỗ tăng thấp 0,25%, cho thấy sức mua đối với hàng hóa giá trị lớn vẫn còn thận trọng. Doanh thu dịch vụ sửa chữa xe có động cơ tăng 4,15%, phản ánh nhu cầu bảo dưỡng, sửa chữa phương tiện tiếp tục gia tăng.
Nhìn chung, thị trường bán lẻ tháng 5/2026 duy trì ổn định và có xu hướng tăng trưởng khá ở hầu hết các nhóm hàng. Cơ cấu tiêu dùng tiếp tục chuyển dịch theo hướng đa dạng hơn, không chỉ tập trung vào hàng hóa thiết yếu mà còn mở rộng sang các nhóm hàng phục vụ sinh hoạt, xây dựng và dịch vụ, góp phần thúc đẩy hoạt động thương mại và tiêu dùng trên địa bàn tỉnh.
* Dịch vụ lưu trú và ăn uống
Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng 5 năm 2026 ước đạt 265,31 tỷ đồng, tăng 8,11% so với tháng trước và tăng 13,84% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Dịch vụ lưu trú đạt 27,18 tỷ đồng, tăng 8,5% và tăng 20,13%; dịch vụ ăn uống đạt 238,13 tỷ đồng, tăng 8,07% và tăng 13,16%. Tính chung năm tháng đầu năm 2026 đạt 1.257,53 tỷ đồng, tăng 17,03% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Dịch vụ lưu trú đạt 133,35 tỷ đồng, tăng 30,76%; dịch vụ ăn uống đạt 1.124,18 tỷ đồng, tăng 15,59%.
Hoạt động dịch vụ lưu trú và ăn uống trên địa bàn tỉnh tiếp tục phục hồi và tăng trưởng khá, nhất là trong bối cảnh nhu cầu du lịch, tham quan, hội họp và tiêu dùng ngoài gia đình tăng lên trong mùa hè. Doanh thu dịch vụ lưu trú tăng cao so với cùng kỳ phản ánh lượng khách du lịch và khách công tác đến địa phương tiếp tục gia tăng, đồng thời cho thấy hiệu quả từ các hoạt động quảng bá du lịch, tổ chức sự kiện và cải thiện chất lượng dịch vụ. Bên cạnh đó, dịch vụ ăn uống duy trì mức tăng ổn định nhờ nhu cầu tiêu dùng của người dân được cải thiện, các cơ sở kinh doanh ăn uống hoạt động sôi động hơn, đặc biệt tại khu vực trung tâm và các điểm du lịch. Tính chung năm tháng đầu năm, lĩnh vực dịch vụ tiếp tục là một trong những ngành có tốc độ phục hồi tích cực, góp phần thúc đẩy tiêu dùng xã hội, tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động trên địa bàn tỉnh.
* Dịch vụ khác
Doanh thu một số ngành dịch vụ khác tháng 5/2026 ước tính đạt 474,19 tỷ đồng, tăng 2,78% so với tháng trước, tăng 10,08% so với cùng kỳ năm trước, Mặc dù tốc độ tăng so với tháng trước không cao, song kết quả này cho thấy hoạt động dịch vụ trên địa bàn tiếp tục duy trì xu hướng tăng trưởng ổn định. Một số lĩnh vực như vận tải, hỗ trợ kinh doanh, kho bãi, vui chơi giải trí và dịch vụ phục vụ cá nhân tiếp tục có mức tăng khá nhờ nhu cầu đi lại, giao thương và tiêu dùng của người dân tăng lên. Bên cạnh đó, thu nhập và đời sống dân cư từng bước được cải thiện cũng góp phần thúc đẩy chi tiêu cho các dịch vụ ngoài nhu cầu thiết yếu, tạo điều kiện cho các cơ sở kinh doanh dịch vụ mở rộng hoạt động và nâng cao chất lượng phục vụ.
Tính chung năm tháng đầu năm 2026 đạt 2.295,80 tỷ đồng, tăng 10,98% so với cùng kỳ năm trước, cho thấy khu vực dịch vụ tiếp tục phục hồi tích cực và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế của tỉnh. Sự tăng trưởng ổn định của nhóm ngành dịch vụ không chỉ góp phần thúc đẩy tiêu dùng xã hội mà còn tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho người lao động và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế chung trên địa bàn.

b) Hoạt động xuất - nhập khẩu
Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa tháng 5/2026 ước đạt 14,58 triệu USD, tăng 36,53% so thực hiện tháng trước và tăng 29,74% so với cùng kỳ năm trước, trong đó:
- Kim ngạch xuất khẩu ước đạt 8,30 triệu USD, tăng 0,74% so thực hiện tháng trước và giảm 0,06% so với cùng kỳ năm trước. Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là vật liệu xây dựng, hàng nông sản, hàng bách hóa tổng hợp.
- Kim ngạch nhập khẩu ước đạt 6,28 triệu USD, tăng 157,48% so thực hiện tháng trước và tăng 114,18% so với cùng kỳ năm trước. Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất, thi công các công trình và một số mặt hàng nông, lâm sản (gỗ xẻ, bông chít, vừng hạt).
Tính chung năm tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng ước đạt 65,66 triệu USD, tăng 29,74% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Kim ngạch xuất khẩu ước đạt 41,99 triệu USD, giảm 0,06%; kim ngạch nhập khẩu ước đạt 23,56 triệu USD, tăng 114,18%.
c) Chỉ số giá
* Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
Tháng 5 năm 2026, thị trường hàng hóa và dịch vụ trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định, nguồn cung các mặt hàng thiết yếu được bảo đảm, đáp ứng tốt nhu cầu tiêu dùng của người dân. Giá cả một số nhóm hàng có xu hướng giảm nhờ nguồn cung dồi dào, đặc biệt là nhóm lương thực, thực phẩm; trong khi một số nhóm hàng và dịch vụ phục vụ sinh hoạt, giao thông tăng nhẹ do nhu cầu tiêu dùng mùa hè tăng lên. Nhìn chung, mặt bằng giá tháng 5 biến động không lớn và có sự phân hóa giữa các nhóm hàng hóa, dịch vụ. Tác động tổng hợp của các yếu tố trên đã làm CPI tháng 5 năm 2026 giảm 0,26% so với tháng trước, tăng 4,68% so với cùng kỳ năm trước và tăng 7,74% so với kỳ gốc năm 2024. Bình quân năm tháng đầu năm 2026, CPI tăng 3,89% so với cùng kỳ năm trước.
Trong mức giảm 0,26% của CPI tháng 5/2026 so với tháng trước, có 02 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm, 07 nhóm hàng hoá có chỉ số giá tăng và 02 nhóm có chỉ số bình ổn. Điều này cho thấy diễn biến giá cả trên thị trường có sự đan xen giữa các nhóm hàng, tuy nhiên nhìn chung mặt bằng giá tiếp tục giữ ổn định và không xuất hiện biến động lớn.
Trong các nhóm giảm giá, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 1,14%, là nhóm tác động lớn nhất làm CPI chung giảm, chủ yếu do giá lương thực và thực phẩm giảm khi nguồn cung trên thị trường dồi dào, giá một số mặt hàng thực phẩm tươi sống ổn định hơn so với tháng trước. Nhóm thuốc và dịch vụ y tế giảm 0,02%, chủ yếu do giá một số loại thuốc và chi phí dịch vụ y tế cơ bản không có nhiều biến động, góp phần làm giảm nhẹ chỉ số giá chung trong tháng.
Ở chiều ngược lại, một số nhóm hàng và dịch vụ vẫn ghi nhận mức tăng như đồ uống và thuốc lá tăng 0,67%; may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,80%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,11%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,32%. Các mức tăng này chủ yếu xuất phát từ nhu cầu tiêu dùng phục vụ sinh hoạt mùa hè, chi phí nguyên vật liệu và dịch vụ duy trì ở mức cao.
Bên cạnh đó, nhóm giáo dục và nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giữ mức giá ổn định so với tháng trước, cho thấy nhu cầu tiêu dùng ở các nhóm dịch vụ này chưa có nhiều biến động.
CPI bình quân năm tháng đầu năm 2026 tăng 3,89% so với bình quân cùng kỳ năm trước, trong đó một số nhóm có mức tăng khá như đồ uống và thuốc lá tăng 5,61%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,5% (trong đó lương thực tăng 2,06%, thực phẩm tăng 4,54%, ăn uống ngoài gia đình tăng 5,99%), phản ánh nhu cầu tiêu dùng thiết yếu và dịch vụ ăn uống vẫn ở mức cao. Bên cạnh đó, giáo dục tăng 10,43% (dịch vụ giáo dục tăng tới 15,04%) là yếu tố tác động mạnh nhất làm tăng CPI; cùng với thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 4,3% và nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,98%, góp phần làm gia tăng chi phí sinh hoạt. Một số nhóm có mức tăng thấp như thông tin và truyền thông chỉ tăng 0,26%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,82%, cho thấy sức cầu ở một số lĩnh vực chưa thực sự mạnh. Nhóm giao thông tăng 5,79%, nhưng không lớn do giá xăng dầu biến động đan xen trong kỳ, trong khi nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,14% góp phần kiềm chế mức tăng chung.

* Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ
Chỉ số giá vàng tháng 5/2026 giảm 4,35% so với tháng trước, tăng 36,6% so với cùng kỳ năm trước, tăng 6,17% so với tháng 12 năm trước và tăng 108,68% so với kỳ gốc 2024. Bình quân năm tháng đầu năm 2026 tăng 72,9% so với cùng kỳ năm trước.
Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 5/2026 tăng 0,06% so với tháng trước, tăng 1,72% so với cùng kỳ năm trước, giảm 0,12% so với tháng 12 năm trước và tăng 6,34% so với kỳ gốc 2024. Bình quân năm tháng đầu năm 2026 tăng 2,32% so với cùng kỳ năm trước.
d) Hoạt động Vận tải
Trong tháng Năm, hoạt động vận tải trên địa bàn tỉnh Điện Biên diễn ra sôi động do nhu cầu đi lại và du lịch tăng cao; nguyên nhân chủ yếu là trong tháng có kỳ nghỉ lễ kéo dài và nhiều sự kiện lớn diễn ra: Đại hội Thể dục thể thao tỉnh Điện Biên lần thứ XII, Giải bóng chuyền hạng A quốc gia năm 2026 thu hút đông đảo các vận động viên và cổ động viên các đoàn tham gia. So với cùng kỳ năm trước, vận chuyển hành khách tăng 32,57% và luân chuyển hành khách tăng 35,69%; vận chuyển hàng hóa tăng 18,4% và luân chuyển hàng hóa tăng 17,52%.
Tính chung năm tháng đầu năm, vận chuyển hành khách tăng 28,49% so với cùng kỳ năm trước, luân chuyển hành khách tăng 33,56%; vận chuyển hàng hóa tăng 15,52%, luân chuyển hàng hóa tăng 15,5%.
Tổng doanh thu của hoạt động vận tải, kho bãi ước thực hiện tháng 5/2026 đạt 174,81 tỷ đồng, tăng 1,51% so với tháng trước và tăng 20,71% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm tháng đầu năm, doanh thu ước đạt 841,3 tỷ đồng, tăng 18,21% so cùng kỳ năm trước. Bao gồm: Doanh thu vận tải hành khách ước đạt 178,28 tỷ đồng, tăng 29,78%; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 654,89 tỷ đồng, tăng 15,5%; doanh thu hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 6,6 tỷ đồng, tăng 10,56%; bưu chính chuyển phát ước đạt 1,53 tỷ đồng, tăng 13,73%.

Vận tải hành khách tháng 5/2026 ước đạt 373,96 nghìn hành khách, tăng 2,8% so với tháng trước, tăng 32,57% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển 42,51 triệu lượt HK.km, tăng 2,94% so với tháng trước, tăng 35,69% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm tháng đầu năm, vận tải hành khách ước đạt 1.763,8 nghìn hành khách vận chuyển, tăng 28,49% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển 200,415 triệu lượt HK.km, tăng 33,56%.

Vận tải hàng hóa tháng 5/2026 ước đạt 812,13 nghìn tấn, tăng 0,89% so với tháng trước, tăng 18,4% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển 40,24 triệu tấn.km, tăng 1,11% so với tháng trước, tăng 17,52% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm tháng đầu năm, vận tải hàng hóa đạt 3.945,36 nghìn tấn, tăng 15,52% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển 194,907 triệu tấn.km, tăng 15,50% so với cùng kỳ năm trước.
II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI
1. Tình hình đời sống dân cư
Đời sống các tầng lớp dân cư trên địa bàn tỉnh Điện Biên trong tháng Năm năm 2026 cơ bản ổn định, không có biến động lớn. Nhờ lợi thế về hệ thống di tích lịch sử và cảnh quan của tỉnh, du lịch Điện Biên đã khẳng định sức hút mạnh mẽ của vùng đất lịch sử văn hóa, trong tháng lượng khách du lịch đến địa bàn tỉnh tăng khá. Hoạt động du lịch sôi động đã tạo động lực thúc đẩy các ngành dịch vụ lưu trú, ăn uống, vận tải và thương mại phát triển, góp phần giúp đời sống của người dân các dân tộc trên địa bàn tỉnh được nâng cao. Công tác an sinh xã hội tiếp tục được quan tâm thực hiện đầy đủ, kịp thời; các chính sách hỗ trợ người dân được triển khai hiệu quả. Tình hình giá cả thị trường nhìn chung ổn định, nguồn cung hàng hóa thiết yếu được đảm bảo. Công tác y tế, giáo dục và chăm sóc sức khỏe cộng đồng được duy trì. Trong tháng, tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh được giữ vững.
2. Y tế
a) Tình hình dịch bệnh và công tác phòng, chống dịch
Tình hình dịch bệnh: Trong tháng, trên địa bàn tỉnh không ghi nhận các ổ dịch bệnh truyền nhiễm.
Các bệnh truyền nhiễm gây dịch khác: Trong tháng, tình hình sốt rét và sốt xuất huyết trên địa bàn toàn tỉnh ổn định, không có bệnh nhân mắc sốt rét và sốt xuất huyết.
Công tác phòng chống dịch: Ngành Y tế tiếp tục triển khai thực hiện nghiêm túc, chủ động, đồng bộ các biện pháp phòng chống dịch trên địa bàn theo kế hoạch phòng chống dịch bệnh truyền nhiễm ở người năm 2026 của Bộ Y tế và UBND tỉnh. Duy trì hoạt động của đội cơ động chống dịch, chuẩn bị đủ thuốc, hóa chất, vật tư để chủ động đối phó với dịch, nhất là khi có tình huống khẩn cấp. Thành lập các khu điều trị cách ly, thu dung điều trị bệnh nhân, hạn chế mức độ lây lan và tử vong do dịch bệnh. Tăng cường công tác truyền thông bằng nhiều hình thức giúp cho người dân hiểu và chủ động tham gia phòng chống dịch bệnh.
b) Tình hình lây nhiễm HIV/AIDS
Tình hình nhiễm HIV/AIDS, tính đến 30/4/2026, có 44/45 xã, phường có người nhiễm HIV. Luỹ tích toàn tỉnh có 7.886 ca nhiễm HIV, trong đó: có 03 ca mắc mới trong tháng; số chuyển AIDS luỹ tích 5.436 ca (không có ca AIDS mắc mới); số tử vong lũy tích 4.260 ca, trong đó: tử vong mới trong tháng là 02 ca; số còn sống quản lý được 3.410 ca đạt 94% người nhiễm HIV trên địa bàn. Tỷ lệ nhiễm HIV còn sống/dân số 0,51%.
c) Tình hình vệ sinh an toàn thực phẩm
Ngành Y tế chỉ đạo các đơn vị tăng cường công tác truyền thông, kiểm tra, giám sát ATTP tại các cơ sở sản xuất chế biến thực phẩm, kinh doanh dịch vụ ăn uống trên địa bàn toàn tỉnh; tăng cường công tác quản lý ATTP, ngăn ngừa thực phẩm giả.
Hoạt động kiểm tra an toàn thực phẩm: Trong đợt cao điểm tháng hành động vì ATTP, đã thành lập 35 đoàn kiểm tra về ATTP thực hiện kiểm tra đối với 03 Ban chỉ đạo liên ngành về an toàn thực phẩm tuyến xã; 508 cơ sở sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm, dịch vụ ăn uống. Kết quả: 03/03 Ban chỉ đạo ATTP xã thực hiện tương đối tốt công tác quản lý nhà nước về ATTP trên địa bàn; 100% cơ sở đạt yêu cầu về ATTP.
Hoạt động giám sát an toàn thực phẩm: Tại tuyến tỉnh, xã, phường trong tháng 5 thực hiện giám sát đối với 194 cơ sở thực phẩm trên địa bàn theo phân cấp quản lý, kết quả 100% cơ sở thực phẩm đạt yêu cầu.
Trong tháng, trên địa bàn tỉnh không xảy ra các ca, vụ ngộ độc thực phẩm.
3. Giáo dục và đào tạo
Trong tháng, Sở Giáo dục và Đào tạo tiếp tục duy trì và thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm đã đặt ra cho toàn ngành giáo dục. Triển khai thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp hoàn thành chương trình học kỳ 2 năm học 2025-2026, tổng kết năm học đối với giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông; công tác đánh giá chất lượng trẻ cuối năm học 2025-2026.
Giáo dục mầm non - tiểu học: Nâng cao các chỉ số đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non; xây dựng, thực hiện lộ trình phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 3-5 tuổi theo kế hoạch, hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Thực hiện các giải pháp giúp học sinh hoàn thành yêu cầu cần đạt các môn học và hoạt động giáo dục cấp tiểu học trong Chương trình giáo dục phổ thông 2018; hướng dẫn các cơ sở giáo dục xây dựng môi trường học tập sáng tạo và tổ chức tiết dạy sáng tạo ở trường tiểu học.
Giáo dục phổ thông: Tập trung đổi mới phương pháp dạy học các môn học theo định hướng phát triển năng lực học sinh, tích cực ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy, tăng cường thời gian cho học sinh thực hành, vận dụng và trải nghiệm sáng tạo; tổ chức thi thử Tốt nghiệp THPT, tổng hợp kết quả công tác xét hoàn thành Chương trình đối với giáo dục phổ thông. Chuẩn bị hồ sơ và các điều kiện cho kỳ thi Tốt nghiệp THPT và tuyển sinh vào lớp 10 năm học 2026-2027 đạt chất lượng, hiệu quả, tăng điểm trung bình các môn thi và tỷ lệ tốt nghiệp THPT.
Quản lý đào tạo: UBND tỉnh ban hành Kế hoạch thực hiện Chương trình “Đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo nghề nông thôn đến năm 2030” trên địa bàn tỉnh Điện Biên.
4. Văn hoá, thể thao và du lịch
a) Lĩnh vực văn hóa, gia đình
Hoạt động tuyên truyền cổ động: Tổ chức tốt các hoạt động tuyên truyền cổ động trực quan bằng các hình thức: Xây dựng các cụm pano, băng zôn, khẩu hiệu, trên hệ thống loa phát thanh và xe thông tin lưu động. Các hoạt động tuyên truyền chào mừng các ngày lễ, kỷ niệm của đất nước, của tỉnh, ngành trên các phương tiện thông tin điện tử là 75 tin, bài, 482 ảnh và 49 video đăng tải trên fanpage…
Các hoạt động trưng bày, triển lãm: Tham gia Thực hiện trưng bày, triển lãm chuyên đề “Điện Biên – Bản hùng ca chiến thắng và khát vọng phát triển” tham gia kỷ niệm “80 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến” tại tỉnh Nghệ An; triển lãm chuyên đề “Điện Biên – Vùng đất lịch sử, văn hoá, hội nhập và phát triển” trong khuôn khổ Hội nghị xúc tiến đầu tư năm 2026 tại phố đi bộ Mường Thanh.
Trung tâm văn hóa, điện ảnh: Tổ chức 07 chương trình văn hóa, văn nghệ thường niên; 07 buổi hoạt động tại Sân hành lễ Tượng đài Chiến thắng Điện Biên Phủ, Quảng trường 7/5 và phố đi bộ Mường Thanh. Tổ chức 03 quầy sách lưu động phục vụ Nhân dân; thực hiện 64 buổi chiếu phim vùng cao.
Hoạt động thư viện: Tổ chức 02 cuộc trưng bày, triển lãm giới thiệu sách Chào mừng Kỷ niệm 72 năm Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (07/5/1954 - 07/5/2026); Chào mừng Kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026). Thực hiện luân chuyển sách, phục vụ lưu động tại các trường Tiểu học, Trung học cơ sở trên địa bàn các xã, phường và các đơn vị phối hợp. Công tác chuyên môn nghiệp vụ được duy trì thường xuyên, bảo đảm hiệu quả phục vụ. Trong tháng, đã bổ sung 1.728 bản sách; cấp và đổi 50 thẻ bạn đọc; phục vụ 29.949 lượt độc giả với tổng số 59.898 lượt tài nguyên thông tin được khai thác, sử dụng.
Hoạt động phát huy giá trị di sản văn hóa: Dự ước trong tháng 5/2026, hai bảo tàng và các điểm di tích đón 80.947 lượt khách đến tham quan, trong đó có 693 lượt khách nước ngoài. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, đón 233.753 lượt khách đến tham quan, đạt 51,9% kế hoạch năm; trong đó có 3.688 lượt khách nước ngoài, đạt 78,5% kế hoạch năm.
b) Lĩnh vực thể dục thể thao
Phong trào thể dục thể thao quần chúng: Tiếp tục được duy trì và phát triển trên địa bàn tỉnh. Trong tháng duy trì tỷ lệ số người tham gia luyện tập thường xuyên ít nhất 01 môn thể thao là 35,5% tổng số dân trong tỉnh; tỷ lệ số gia đình thể thao là 24,5%, có 467 câu lạc bộ thể thao cơ sở trong toàn tỉnh.
Đại hội Thể dục thể thao tỉnh Điện Biên lần thứ XII: Đại hội được tổ chức thành 02 giai đoạn với tổng số 20 môn thi đấu và 143 nội dung thi đấu. Giai đoạn 1 tổ chức 07 môn và các nội dung Việt dã môn Điền kinh với 31 nội dung thi đấu; giai đoạn 2 diễn ra từ ngày 07/5 đến ngày 11/5/2026, tổ chức thi đấu 13 môn với 112 nội dung. Ban Tổ chức đã trao 112 bộ huy chương và giải thưởng theo quy định. Công tác tổ chức, điều hành thi đấu được triển khai bảo đảm an toàn, đúng kế hoạch, tạo khí thế sôi nổi, góp phần thúc đẩy phong trào thể dục thể thao trên địa bàn tỉnh.
Về thể thao thành tích cao và thể thao chuyên nghiệp: Tiếp tục triển khai công tác đào tạo, huấn luyện vận động viên thể thao thành tích cao. Thành lập các đoàn tham gia thi đấu các giải thể thao, gồm: Vô địch trẻ Karate quốc gia năm 2026 tại Thanh Hoá; giải Cầu lông vô địch trẻ quốc gia năm 2026 tại Ninh Bình; giải vô địch cầu lông các nhóm tuổi thiếu niên quốc gia năm 2026 tại Đà Nẵng; giải vô địch Điền kinh quốc gia U18 tại Thái Nguyên; Giải vô địch Pickleball các Câu lạc bộ quốc gia năm 2026 Tranh cúp Donex… Phối hợp tổ chức vòng bảng Giải Bóng chuyền hạng A quốc gia năm 2026.
c) Lĩnh vực du lịch
Tháng 5/2026, tỉnh Điện Biên đón 145.000 lượt khách du lịch, trong đó 1.200 lượt khách du lịch quốc tế; tổng thu từ khách du lịch đạt 262 tỷ đồng.
Dự ước năm tháng đầu năm, tỉnh Điện Biên đón 850.000 lượt khách du lịch (đạt 53,1% so với kế hoạch, tăng 117% so với cùng kỳ năm 2025), trong đó khách quốc tế đạt 6.775 lượt (đạt 45,2% so với kế hoạch); tổng thu từ khách du lịch đạt 1.539 tỷ đồng (đạt 53,4% so với kế hoạch, tăng 118%).
5. Tai nạn giao thông, cháy nổ, vi phạm môi trường
a) Tai nạn giao thông
Từ 15/3/2026 đến 14/4/2026, trên địa bàn toàn tỉnh đã xảy ra 05 vụ tai nạn giao thông làm 01 người chết và 06 người bị thương. So cùng kỳ năm trước: Số vụ tai nạn bằng cùng kỳ; số người chết giảm 66,67%; số người bị thương tăng 50%. Hư hỏng 06 xe mô tô, 02 xe ô tô thiệt hại ước tính khoảng 17 triệu đồng.
Lũy kế từ ngày 15/11/2025 đến ngày 14/4/2026, trên địa bàn tỉnh Điện Biên đã xảy 40 vụ tai nạn và va chạm giao thông, làm 17 người chết, 33 người bị thương. So cùng kỳ năm trước: Số vụ tai nạn tăng 2,56%; số người chết tăng 41,67%, số người bị thương giảm 17,5%. Nguyên nhân tai nạn chủ yếu do vi phạm tốc độ khi điều khiển phương tiện, người đi bộ sang đường sai quy định, vượt xe không đúng quy định, đi sai làn đường, phần đường; vi phạm về nồng độ cồn.
b) Cháy nổ
Từ 15/3/2026 đến 14/4/2026, trên địa bàn tỉnh xảy ra 02 vụ cháy (01 vụ cháy rừng thảm thực vật; 01 vụ cháy đồi trồng cây Mắc ca), không có thiệt hại về người. Ước tính thiệt hại khoảng 7,6 ha rừng và thảm thực vật, đến nay chưa hoàn thành việc thẩm định giá trị; nguyên nhân gây ra cháy đang điều tra làm rõ.
Lũy kế từ 15/11/2025 đến 14/4/2026, trên địa bàn toàn tỉnh xảy ra 04 vụ cháy, giảm 63,64% so cũng kỳ năm trước, không có thiệt hại về người. Ước tính thiệt hại khoảng 7,6 ha rừng và thảm thực vật; thiệt hại về tài sản khoảng 185 triệu đồng.
c) Vi phạm môi trường
Trong tháng, các cơ quan chức năng đã phát hiện 78 vụ vi phạm môi trường và xử lý 92 vụ với tổng số tiền phạt 524,52 triệu đồng; so với tháng trước số vụ vi phạm giảm 8,24%; số vụ đã được xử lý tăng 15%; tổng số tiền xử phạt tăng 104,57%.
Tính chung năm tháng đầu năm, đã phát hiện 258 vụ vi phạm môi trường và xử lý 259 vụ với tổng số tiền phạt là 1.229,22 triệu đồng; số vụ vi phạm giảm 11,64%; số vụ đã được xử lý giảm 4,43%; tổng số tiền xử phạt giảm 1,72% so với cùng kỳ năm trước. Các vụ vi phạm môi trường chủ yếu là phá rừng làm nương, tàng trữ, mua bán, chế biến lâm sản trái pháp luật.
6. Thiệt hại do thiên tai
Trong tháng, trên địa bàn tỉnh xảy ra 05 vụ thiên tai mưa to kèm giông lốc, gây thiệt hại về người (04 người bị thương nhẹ), gây thiệt hại về tài sản của nhân dân 221 ngôi nhà bị hư hỏng nhẹ (thiệt hại dưới 30%), thiệt hại về lúa 749 ha và thiệt hại về hoa màu 48 ha; ước thiệt hại khoảng 5.490,15 triệu đồng.
Lũy kế từ đầu năm, do ảnh hưởng của gió lốc và mưa lớn đã xảy ra xảy ra 10 vụ thiên tai trên địa bàn tỉnh Điện Biên. Gây ra thiệt hại về người (06 người bị thương nhẹ), 332 ngôi nhà bị ảnh hưởng (thiệt hại dưới 30%), thiệt hại về lúa 749 ha và thiệt hại về hoa màu 48 ha; ước tổng thiệt hại khoảng 6.842,65 triệu đồng.
Tác giả bài viết: Thống kê tỉnh Điện Biên
Ghi rõ nguồn "Thống kê tỉnh Điện Biên" hoặc "https://thongkedienbien.nso.gov.vn" khi phát hành lại thông tin từ các nguồn này.
Ý kiến bạn đọc
Những tin cũ hơn