TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH ĐIỆN BIÊN THÁNG 7 NĂM 2025

Thứ bảy - 02/08/2025 09:06

I. KINH TẾ

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

Tháng Bẩy, gieo cấy lúa và cây hằng năm khác vụ mùa cơ bản đảm bảo tiến độ; công tác phòng trừ dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm được kiểm soát tốt; sản xuất lâm nghiệp tập trung thực hiện công tác quản lý, bảo vệ, chăm sóc rừng; hoạt động nuôi trồng và khai thác thuỷ sản phát triển ổn định.

a) Nông nghiệp

* Trồng trọt

Lúa mùa: Tính đến ngày 20/7/2025, toàn tỉnh đã gieo cấy ước tính được 43.658,59 ha, giảm 1,15% , đạt 98,47% kế hoạch.

Các loại cây hằng năm khác: Trong tháng cùng với việc gieo trồng lúa, bà con tiến hành làm đất, gieo trồng các loại cây hàng năm khác đảm bảo lịch thời vụ. Dự ước toàn tỉnh triển khai gieo trồng được 1.465,56 ha , tăng 2,2% so với thực hiện cùng kỳ năm trước.

Cây lâu năm: Tập trung chăm sóc những diện tích hiện có, đồng thời phát cỏ, tỉa cành, bón phân để đảm bảo cho cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt. Tiếp tục thu hoạch sản phẩm trong kỳ phục vụ nhu cầu thị trường như chuối, mận, dứa ...

Tình hình sâu, bệnh hại trên cây trồng: Tổng diện tích nhiễm sinh vật gây hại trong tháng 3.604,42 ha , tăng 657,12 ha so cùng kỳ năm trước; diện tích phòng trừ 5.115,25 ha.

* Chăn nuôi 

Trong tháng, công tác phòng trừ dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm được kiểm soát tốt.

Dự ước số đầu con và sản lượng thịt hơi xuất chuồng trong tháng và so với cùng kỳ năm trước: Trâu 858 con, tăng 1,9%; bò 916 con, tăng 1,22%; lợn 24.700 con, tăng 4,37%; thịt gia cầm 439 tấn, tăng 2,98%; trứng 6.920,92 nghìn quả, tăng 1,62%.

Tình hình thiệt hại do dịch bệnh : Trong tháng có 1.004 con lợn bị chết và tiêu hủy do dịch tả lợn Châu Phi xảy ra tại 12/45 xã, phường. Công tác tiêm phòng thực hiện được 130.300 liều vắc xin phòng bệnh lở mồm long móng; kiểm dịch động vật được 1.753 con gia súc, 157 kg thị trâu bò xuất ngoài tỉnh; kiểm soát giết mổ được 169 con gia súc.

b) Lâm nghiệp 

Trong tháng, dự ước khai thác được 815 m3 gỗ, giảm 11,41% so với thực hiện cùng kỳ năm trước; củi khai thác được 64.120 ste, giảm 2,25%. Tính chung bẩy tháng năm 2025, sản lượng gỗ khai thác đạt 6.678 m3, giảm 2,68%; sản lượng củi khai thác đạt 465.720 ste, tăng 0,22%.

Diện tích rừng bị thiệt hại trong tháng là 0,09 ha rừng, giảm 98,83% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung bẩy tháng năm 2025, có 92,04 ha rừng bị thiệt hại, giảm 13,59% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích rừng bị thiệt hại chủ yếu do phá rừng.

Trong tháng, toàn tỉnh xảy ra 05 vụ vi phạm luật Lâm nghiệp , cơ quan chức năng đã tịch thu 0,057 m3; tổng số tiền thu nộp ngân sách trong tháng 43 triệu đồng.

c) Thủy sản

Nuôi trồng và khai thác thuỷ sản trên địa bàn tỉnh phát triển ổn định, dự ước toàn tỉnh có 2.749,09 ha ao, hồ nuôi trồng thủy sản, tăng 0,16% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: diện tích nuôi cá 2.747,59 ha. Các mô hình nuôi cá lồng bè trên địa bàn tỉnh tiếp tục được quan tâm, duy trì số lượng 335 lồng với thể tích 45.626 m³; mô hình nuôi cá hồi bằng bể bồn tại xã Quài Tở với thể tích 600 m3.

Sản lượng thủy sản tháng 7/2025 ước đạt 438,26 tấn, tăng 4,03% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Cá đạt 427,22 tấn, tăng 4,05%; tôm đạt 2,92 tấn, tăng 2,46%; thủy sản khác đạt 8,12 tấn, tăng 3,97%. Tính chung bẩy tháng năm 2025, sản lượng thủy sản ước đạt 2.941,95 tấn, tăng 3,64% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Cá đạt 2.852,79 tấn, tăng 3,69%; tôm đạt 25,97 tấn, tăng 1,8%; thủy sản khác đạt 63,19 tấn, tăng 2,28%.

Sản lượng thủy sản nuôi trồng trong tháng ước đạt 416,73 tấn, tăng 4,07% so với thực hiện cùng kỳ năm trước, bao gồm: Cá đạt 412,2 tấn, tăng 4,07%; tôm đạt 1,13 tấn, tăng 2,73%; thủy sản khác đạt 3,4 tấn, tăng 4,62%. Tính chung bẩy tháng năm 2025, sản lượng thủy sản ước đạt 2.769,39 tấn, tăng 3,69% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Cá đạt 2.736,23 tấn, tăng 3,72%; tôm đạt 7,86 tấn, tăng 1,42%; thủy sản khác đạt 25,3 tấn, tăng 1,4%.

Sản lượng thuỷ sản khai thác trong tháng ước đạt 21,53 tấn, tăng 3,36% so với thực hiện cùng kỳ năm trước, bao gồm: Cá đạt 15,02 tấn, tăng 3,44%; tôm đạt 1,79 tấn, tăng 2,29%; thủy sản khác đạt 4,72 tấn, tăng 3,51%. Tính chung bẩy tháng năm 2025, sản lượng thủy sản khai thác ước đạt 172,56 tấn, tăng 2,81% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Cá đạt 116,56 tấn, tăng 2,92%; tôm đạt 18,11 tấn, tăng 1,97%; thủy sản khác đạt 37,89 tấn, tăng 2,88%.

2. Sản xuất công nghiệp

Sản xuất công nghiệp tháng Bẩy tiếp tục xu hướng tăng trưởng tích cực. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp trong tháng ước tính tăng 50,22% so với tháng trước và tăng 18,74% so với cùng kỳ năm trước; tính chung bẩy tháng năm 2025, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 9,97% so với cùng kỳ năm trước. 

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng 7/2025 ước tính tăng 50,22% so với tháng trước và tăng 18,74% so với cùng kỳ năm trước . Trong đó, ngành khai khoáng giảm 16,6% và tăng 13,37%; ngành chế biến, chế tạo giảm 3,82% và tăng 13,81%; sản xuất và phân phối điện tăng 117,02% và tăng 21,88%, cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,24% và tăng 8,56%.

Tính chung bẩy tháng năm 2025, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước tăng 9,97% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2024 tăng 21,1%). Trong đó, ngành khai khoáng tăng 18,64%  (cùng kỳ năm 2024 giảm 9,49%); ngành chế biến, chế tạo tăng 8,51% (cùng kỳ năm 2024 tăng 8,47%); ngành sản xuất và phân phối điện tăng 12,54%  (cùng kỳ năm 2024 tăng 60,62%); ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,97% (cùng kỳ năm 2024 tăng 0,64%).

Chỉ số sản xuất bẩy tháng năm 2025 của một số ngành công nghiệp cấp II tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất than cứng và than non tăng đột biến 420,91% ; sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế tăng 40,74%; sản xuất hóa chất và các sản phẩm hóa chất tăng 25,01%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 16,12%; sản xuất phân phối điện tăng 12,54%; dệt tăng 9,79%; khai khoáng khác tăng 9,56%... Ở chiều ngược lại, khai thác, xử lý và cung cấp nước giảm 2,67%.

Một số sản phẩm công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong bẩy tháng năm 2025 tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Than đá ước đạt 7.548 tấn, tăng 420,91%; sản phẩm in khác tăng 21,21%; xi măng Portland đen tăng 16,66%; gường bằng gỗ các loại tăng 12,94%; điện sản xuất tăng 12,72%; điện thương phẩm tăng 10,01%; đá xây dựng tăng 9,71%; thiết bị dùng cho dàn giáo, ván khuôn, vật chống hoặc cột trụ chống hầm lò bằng sắt, thép, nhôm tăng 7,18%. Ở chiều ngược lại, nước không uống được giảm 6,8%; báo in giảm 5,18%; nước uống được giảm 1,33%.

Như vậy trong giai đoạn 5 năm liên tục chỉ số IIP luôn có mức tăng giảm không đồng đều giữa cách ngành cấp I, trong đó công nghiệp chế biến chế tạo và cung cấp nước, hoạt động thu gom và xử lý rác thải luôn đạt được mức tăng trưởng dương; Khai khoáng và sản xuất phân phối điện xu hướng tăng giảm không đồng đều và chịu tác động từ yếu tố khách quan của thời tiết nên ảnh hưởng đến kết quả dự báo sản lượng điện và chỉ số sản xuất chung của toàn ngành.

Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/7/2025 giảm 0,16% so với tháng trước và tăng 5,3% so với tháng cùng kỳ năm trước (khu vực doanh nghiệp Nhà nước ổn định và tăng 2,11%; khu vực doanh nghiệp ngoài Nhà nước giảm 0,26% và tăng 7,56%). Tính chung bẩy tháng năm 2025 số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tăng 3,55% (khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 2,3%, khu vực doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 4,42%).

3. Đầu tư

Vốn đầu tư phát triển trên địa bàn tháng 7 năm 2025 ước tính đạt 8.967,66 tỷ đồng, tăng 9,85% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý ước tính đạt 378,93 tỷ đồng, tăng 18,44% so với cùng kỳ năm trước và đạt 47,46% kế hoạch. 

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý tháng 7/2025 ước đạt 378,93 tỷ đồng, tăng 4,34% so với tháng trước, tăng 18,44% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 354,48 tỷ đồng, tăng 1,3% và tăng 13,82%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 24,45 tỷ đồng, tăng 85,12% và tăng 188,1%. 

Tính chung bẩy tháng năm 2025, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước đạt 1.758,84 tỷ đồng, giảm 12,79% so với cùng kỳ năm trước, đạt 47,46% kế hoạch. Cụ thể: vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 1.688,9 tỷ đồng, giảm 14,13%, đạt 48,12% kế hoạch; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 69,93 tỷ đồng, tăng 40,21%, đạt 35,64% kế hoạch.

 Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Điện Biên tháng 7/2025 ước đạt 1.617,75 tỷ đồng, tăng 4,75% so với tháng trước, tăng 9,85% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: vốn Nhà nước trên địa bàn đạt 657,25 tỷ đồng, tăng 4,15% và giảm 0,69% (vốn Trung ương quản lý đạt 229,42 tỷ đồng, tăng 3,7% và giảm 25,15%; vốn địa phương quản lý đạt 427,84 tỷ đồng, tăng 4,39% và tăng 20,4%); vốn ngoài Nhà nước đạt 960,49 tỷ đồng, tăng 5,17% và tăng 18,46%. 

Tính chung bẩy tháng năm 2025, vốn đầu tư phát triển toàn xã hội ước đạt 8.967,66 tỷ đồng, giảm 4,51% so với cùng kỳ năm trước, đạt 31,74% kế hoạch. Cụ thể: Vốn đầu tư thuộc ngân sách Nhà nước đạt 3.440,82 tỷ đồng, giảm 19,56% (vốn Trung ương quản lý đạt 1.399,16 tỷ đồng, giảm 31,22%; vốn địa phương quản lý đạt 2.041,66 tỷ đồng, giảm 8,98%); vốn ngoài Nhà nước đạt 5.526,84 tỷ đồng, tăng 8,07%. 

4. Thu, chi ngân sách Nhà nước

Thu ngân sách Nhà nước bẩy tháng năm 2025 ước tăng 43,94% so với cùng kỳ năm trước. Chi ngân sách Nhà nước ước tăng 24,3% so với cùng kỳ năm trước, đảm bảo nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý Nhà nước trên địa bàn tỉnh.

a) Thu ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước tháng 7/2025 ước đạt 71,92 tỷ đồng. Lũy kế tổng thu ngân sách Nhà nước bẩy tháng năm 2025 đạt 1.189,24 tỷ đồng tăng 43,94% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó:

- Thu nội địa tháng 7/2025 ước đạt 65,96 tỷ đồng; lũy kế bẩy tháng năm 2025 ước đạt 930,55 tỷ đồng (chiếm 78,25%), tăng 37,51% so với cùng kỳ năm trước. Một số khoản thu chiếm tỷ trọng lớn tăng cao so cùng kỳ năm trước như: Các khoản thu về nhà đất đạt 228,81 tỷ đồng (chiếm 19,24%), tăng 200,74%; thu từ khu vực công, thương nghiệp ngoài quốc doanh đạt 249,32 tỷ đồng (chiếm 20,96%), tăng 15,08%; thu từ doanh nghiệp nhà nước đạt 135,51 tỷ đồng (chiếm 11,39%), tăng 21,79%; thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản đạt 36,7 tỷ đồng (chiếm 3,09%), tăng 164,55%; thuế thu nhập cá nhân đạt 47,98 tỷ đồng (chiếm 4,03%), tăng 14,11%.

- Thu viện trợ các khoản huy động đóng góp tháng 7/2025 ước đạt 3,5 tỷ đồng; lũy kế bẩy tháng năm 2025 ước đạt 251,92 tỷ đồng (chiếm 21,18%), tăng 89,46% so với cùng kỳ năm trước.

b) Chi ngân sách Nhà nước

Tổng chi ngân sách Nhà nước tháng 7/2025 ước đạt 614,36 tỷ đồng; lũy kế bẩy tháng năm 2025 ước đạt 11.251,23 tỷ đồng, tăng 24,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chi đầu tư phát triển đạt 3.432,39 tỷ đồng (chiếm 30,51%), tăng 14,29%; chi thường xuyên đạt 7.813,94 tỷ đồng (chiếm 69,45%), tăng 29,52%.

5. Thương mại, dịch vụ, giá cả, vận tải

a) Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 

Với việc đẩy mạnh công tác quảng bá, xúc tiến du lịch theo nhiều nội dung đổi mới; ngành Du lịch Điện Biên được quan tâm về chiều sâu, phù hợp, hiệu quả. Hình ảnh Điện Biên được nhiều du khách trong và ngoài nước biết đến; các Doanh nghiệp, đại lý bán lẻ triển khai nhiều chương trình ưu đãi nhằm kích cầu tiêu dùng các mặt hàng phục vụ người tiêu dùng trong mùa nắng nóng,… đã tác động làm tăng doanh thu thương mại và một số ngành dịch vụ khác. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 0,26% so với tháng trước và  tăng 15,37% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung bẩy tháng năm 2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 10,27% so với cùng kỳ năm trước.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 7/2025 ước tính đạt 2.386,92 tỷ đồng, tăng 0,26% so với tháng trước, tăng 15,37% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung bẩy tháng năm 2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 16.261,53 tỷ đồng, tăng 10,27% so với cùng kỳ năm trước.

* Bán lẻ hàng hoá: Xét theo ngành hoạt động trong tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 7/2025 và 7 tháng đầu năm 2025 như sau:

* Dịch vụ lưu trú và ăn uống 

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng 7/2025 ước đạt 117,19 tỷ đồng, giảm 11,71% so với tháng trước và tăng 36,67% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Dịch vụ lưu trú đạt 14,84 tỷ đồng, giảm 5,07% và tăng 56%; dịch vụ ăn uống đạt 102,35 tỷ đồng, giảm 12,06% và tăng 34,26%. Tính chung bẩy tháng năm 2025 đạt 862,36 tỷ đồng, giảm 2,92% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Dịch vụ lưu trú đạt 100,69 tỷ đồng, giảm 4,67%; dịch vụ ăn uống đạt 761,67 tỷ đồng, giảm 2,69%.

* Dịch vụ khác

Doanh thu một số ngành dịch vụ khác tháng 7/2025 ước tính đạt 307,8 tỷ đồng, tăng 1,23% so với tháng trước, tăng 17,04% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung bẩy tháng năm 2025 đạt 2.097,95 tỷ đồng, tăng 14,39% so với cùng kỳ năm trước.

Nhìn chung doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, lữ hành trong tháng tăng so với tháng trước, do sự quảng bá hình ảnh Điện Biên nhận được sự quan tâm của khách du lịch cũng như thị hiếu, nhu cầu của khách tham quan. Bên cạnh đó, trong tháng đang là kỳ nghỉ hè của học sinh, sinh viên đồng thời là tháng cao điểm của mùa thăm quan, du lịch; các Doanh nghiệp, đại lý bán lẻ triển khai nhiều chương trình ưu đãi nhằm kích cầu tiêu dùng các mặt hàng phục vụ người tiêu dùng trong mùa nắng nóng... Các nhóm dịch vụ trong tháng đều có xu hướng tăng so với tháng trước, nhiều cơ sở hoạt động dịch vụ đã hoạt động ổn định trở lại so với cùng kỳ năm trước. 

b)  Hoạt động xuất - nhập khẩu 

Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa tháng 7/2025 ước đạt 10,5 triệu USD, tăng 3,24% so thực hiện tháng trước và tăng 113,41% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: 

Kim ngạch xuất khẩu ước đạt 8,04 triệu USD, tăng 1,64% so thực hiện tháng trước và tăng 111,58% so với cùng kỳ năm trước. Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là hàng bách hóa tổng hợp, thức ăn chăn nuôi, hàng nông sản và vật liệu xây dựng.

Kim ngạch nhập khẩu ước đạt 2,46 triệu USD, tăng 8,85% so thực hiện tháng trước và tăng 119,64% so với cùng kỳ năm trước. Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu: Gỗ, hàng nông sản, máy móc thiết bị. 

Tính chung bẩy tháng năm 2025, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng ước đạt 75,95 triệu USD, tăng 8,78% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Kim ngạch xuất khẩu ước đạt 57,61 triệu USD, tăng 24,56%. Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là hàng bách hóa tổng hợp, hàng nông sản và vật liệu xây dựng; Kim ngạch nhập khẩu ước đạt 18,34 triệu USD, giảm 22,18%. Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu: Gỗ, hàng nông sản, máy móc thiết bị. 

c) Chỉ số giá

* Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)

 Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 7/2025 tăng 0,02% so với tháng trước. So với tháng 12/2024, CPI tháng 7 tăng 0,49% và giảm 1,09% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân bẩy tháng năm 2025, CPI giảm 0,74% so với cùng kỳ năm 2024.

Trong mức tăng 0,02% của CPI tháng 7/2025 so với tháng trước có 06 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng, 03 nhóm có chỉ số giá giảm và 02 nhóm bình ổn. 

(1) Sáu nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng:

- Nhóm đồ uống thuốc lá tăng 1,10% , cụ thể: Nước khoáng tăng 1,69%; nước giải khát có ga tăng 0,51%; nước quả ép tăng 1,29%; nước uống tăng lực đóng chai, lon, hộp tăng 0,97%; rượu mạnh 0,73%; rượu vang tăng 0,68%; bia chai tăng 1,01%; bia lon tăng 0,84%; thuốc lá tăng 1,72%; thuốc lào tăng 2,57%.

- Nhóm thiết bị đồ dùng gia đình tăng 0,32%, Cụ thể, nhóm mặt hàng xà phòng và chất tẩy rửa tăng từ 0,46%-1,64%; nhóm mặt hàng vật phẩm tiêu dùng khác tăng từ 1,12%-1,92%. Ở chiều ngược lại, các mặt hàng có giá bán giảm như: Máy điều hòa nhiệt độ giảm 0,36%; tủ lạnh giảm 0,34%; máy giặt giảm 0,52%; máy hút mùi giảm 1,45%; bình nước nóng nhà tắm giảm 1,25%; máy tính và phụ kiện giảm 0,20%; máy in, máy chiếu, máy quét giảm 0,93%; quạt điện giảm 1,45%; máy xay sinh tố, ép hoa quả giảm 1,45%; máy đánh trứng, trộn đa năng giảm 0,81%; bàn là điện giảm 1,60%; bếp gas giảm 1,87%; nồi cơm điện giảm 1,73%; lò vi sóng, lò nướng, bếp từ giảm 1,29%.

- Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,27%, một số mặt hàng có chỉ số giá tăng, cụ thể: Vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,83% (chủ yếu ở nhóm vật liệu bảo dưỡng nhà ở chính tăng 0,87%); chỉ số giá nước sinh hoạt tăng 0,52%; chỉ số giá điện sinh hoạt tăng 3,18%. Nguyên nhân, (1). Nhu cầu sử dụng nước, điện của người dân tăng đã tác động làm tăng chỉ số giá, (2). Trong tháng Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam điều chỉnh tăng giá bán lẻ dầu đã tác động làm tăng chỉ số giá dầu.

- Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,22%, cụ thể: Máy dùng điện cho chăm sóc cá nhân tăng 1,88%; dụng cụ cá nhân không dùng điện tăng 1,66%; hàng chăm sóc cơ thể tăng 0,91%; túi sách, va ly, ví tăng 1,28%; đồ trang sức tăng 0,64%; đồng hồ đeo tay tăng 0,54%. 

- Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,09%, do tháng 7 trong thời gian nghỉ hè của học sinh, sinh viên nhu cầu đi chơi và du lịch của các gia đình tăng đã tác động là chỉ số giá một số mặt hàng trong nhóm tăng cụ thể: Du lịch trong nước tăng 1,02%; du lịch ngoài nước tăng 1,16%; khách sạn tăng 1,46%; nhà khách tăng 1,52%.

- Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,02%, cụ thể: Nhóm thuốc tác dụng trên đường hô hấp tăng 0,98%; vitamin và khoáng chất tăng 1,59%; thuốc đường tiêu hóa tăng 0,65%. 

(2) Ba nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm: 

- Nhóm giao thông giảm 0,39%, cụ thể: Xăng A95 III giảm 1,46%; dầu mỡ nhờn giảm 0,55%. Nguyên nhân, Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam trong tháng điều chỉnh tăng, giảm giá bán xăng, dầu đã tác động làm chỉ số giá xăng giảm so với tháng trước, với mức giảm giá hiện tại giá bán lẻ xăng A95 III là 20.090 đồng/lít. Ở chiều ngược lại, giá dầu Diezel được điều chỉnh tăng giá bán đã tác động làm tăng chỉ số giá dầu Diezel 3,82%, với mức tăng hiện tại giá dầu Diezel được bán là 19.500 đồng/lít.

- Nhóm may mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,14%, chủ yếu do giá vải các loại giảm 1,64%, xu hướng mua quần áo may sẵn ngày càng phổ biến, đặc biệt là qua các sàn thương mại điện tử với nhiều  mẫu mã đẹp giá thành thấp nhu cầu sử dụng vải để cắt may của người dân giảm.

- Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,08%, trong đó: Nhóm lương thực giảm 0,43% ; nhóm thực phẩm tăng 0,04% ; nhóm ăn uống ngoài gia đình giảm 0,4%.

(2) Hai nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số bình ổn: Nhóm giáo dục và Nhóm bưu chính viễn thông.

* Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ 

Chỉ số giá vàng tháng 7/2025 tăng 1,88% so với tháng trước, tăng 56,18% so với cùng kỳ năm trước, tăng 41,74% so với tháng 12 năm trước và tăng 210,92% so với kỳ gốc 2019. Bình quân bẩy tháng năm 2025 tăng 30,24%.

Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 7/2025 tăng 0,31% so với tháng trước, tăng 3,31% so với cùng kỳ năm trước, tăng 3,22% so với tháng 12 năm trước và tăng 12,66% so với kỳ gốc 2019. Bình quân bẩy tháng năm 2025 tăng 3,24%.

d) Hoạt động Vận tải

Trong tháng Bẩy, nhu cầu đi lại của học sinh, sinh viên tăng cao vào dịp nghỉ hè, có nhiều hoạt động tri ân nhân dịp kỷ niệm 78 năm ngày thương binh liệt sĩ (27/7); lưu thông, trao đổi hàng hoá giữa các vùng miền tăng góp phần làm doanh thu và sản lượng vận tải tăng so với cùng kỳ năm trước.

Tổng doanh thu của hoạt động vận tải, kho bãi ước thực hiện tháng Bẩy đạt 173,3 tỷ đồng, tăng 0,66% so với tháng trước và tăng 16,95% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung bẩy tháng năm 2025, doanh thu ước đạt 1.157,31 tỷ đồng, tăng 13,24% so cùng kỳ năm trước. Bao gồm: Doanh thu vận tải hành khách ước đạt 229,79 tỷ đồng, giảm 4,36%; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 917,12 tỷ đồng, tăng 18,81%; doanh thu hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 10,4 tỷ đồng, tăng 5,67%.

Vận tải hành khách tháng 7/2025 ước đạt 307,42 nghìn hành khách, tăng 0,39% so với tháng trước, tăng 14,57% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển 48,14 triệu lượt HK.km, tăng 0,4% so với tháng trước, tăng 12,94% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung bẩy tháng năm 2025, vận tải hành khách ước đạt 2.066,78 nghìn hành khách vận chuyển, giảm 4,33% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển 324,53 triệu lượt HK.km, giảm 4,34%.

Vận tải hàng hóa tháng 7/2025 ước đạt 893,29 nghìn tấn, tăng 0,68% so với tháng trước, tăng 17,22% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển 40,83 triệu tấn.km, tăng 0,71% so với tháng trước, tăng 18,02% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung bẩy tháng năm 2025, vận tải hàng hóa đạt 5.976,95 nghìn tấn, tăng 18,41% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển 272,15 triệu tấn.km, tăng 18,83% so với cùng kỳ năm trước.

II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI

1. Tình hình đời sống dân cư

Việc thực hiện các chính sách an sinh xã hội, phúc lợi xã hội trên địa bàn tỉnh luôn được lãnh đạo địa phương quan tâm và chú trọng, lãnh đạo các cấp đã thăm hỏi, động viên và tặng quà cho các gia đình chính sách trên địa bàn tỉnh nhân dịp Kỷ niệm ngày Thương binh- Liệt sĩ. Là tỉnh có nhiều điểm di tích lịch sử, các Sở, ngành tiếp tục đẩy mạnh công tác quảng bá, xúc tiến du lịch theo nhiều nội dung đổi mới tiếp tục thu hút lượng khách khá đông đến với Điện Biên. Đã tác động tích cực đến các hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và một số ngành dịch vụ khác... làm cho đời sống các tầng lớp dân cư trong tháng ổn định và nâng cao. 

Tình hình an ninh chính trị trên địa bàn tỉnh được tăng cường và giữ vững.

2. Y tế

a) Tình hình dịch bệnh và công tác phòng, chống dịch 

Tình hình dịch bệnh: Trong tháng không ghi nhận ổ dịch mới trên địa bàn tỉnh. Tình hình dịch sởi số ca mắc bệnh sởi trong tháng là 30 ca, lũy tích từ ngày 23/11/2024 đến 14/7/2025 là 1.300 ca mắc, không có trường hợp tử vong, đã điều trị khỏi 1.294 ca, đang điều trị 06 ca.

Công tác phòng chống dịch: Ngành y tế tiếp tục triển khai thực hiện nghiêm túc, chủ động, đồng bộ các biện pháp phòng chống dịch trên địa bàn theo kế hoạch phòng chống dịch bệnh truyền nhiễm ở người năm 2025 của UBND tỉnh. Tăng cường giám sát các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm và các bệnh truyền nhiễm gây dịch. Tăng cường công tác truyền thông bằng nhiều hình thức giúp cho người dân hiểu và chủ động tham gia phòng chống dịch bệnh.

b) Tình hình lây nhiễm HIV/AIDS

Tình hình nhiễm HIV/AIDS vẫn diễn biến phức tạp, tính đến 30/6/2025, có 122/129 xã, phường, thị trấn thuộc 10/10 huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh có người nhiễm HIV. Tổng số tích lũy toàn tỉnh có 7.837 ca nhiễm HIV  trong đó: 02 ca mắc mới; tích lũy số ca AIDS là 5.446 (không có ca nhiễm HIV chuyển giai đoạn AIDS mới trong tháng); số tử vong lũy tích 4.218 ca, trong đó: 09 ca tử vong mới. Tổng số ca nhiễm HIV được quản lý là 3.399 chiếm 93,9% người nhiễm HIV trên địa bàn. Tỷ lệ nhiễm HIV còn sống/dân số 0,51%.

c) Tình hình vệ sinh an toàn thực phẩm 

Ngành Y tế tăng cường công tác truyền thông, kiểm tra, giám sát an toàn thực phẩm tại các cơ sở sản xuất chế biến thực phẩm, kinh doanh dịch vụ ăn uống trên địa bàn toàn tỉnh; tăng cường công tác quản lý an toàn thực phẩm, ngăn ngừa thực phẩm giả. 

Hoạt động kiểm tra, giám sát an toàn thực phẩm: Trong tháng, thực hiện giám sát 109 cơ sở thực phẩm, 20 bếp ăn tập thể trường học, Kết quả: 129/129 cơ sở đạt yêu cầu về ATTP (chiếm 100%).

Tiếp tục thực hiện việc kiểm tra và cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm cho các cơ sở sản xuất, chế biến và kinh doanh thực phẩm đủ điều kiện trên địa bàn toàn tỉnh. Lũy kế cấp giấy chứng nhận và ký cam kết đảm bảo an toàn thực phẩm trên địa bàn toàn tỉnh là 2.069/2.095 cơ sở (chiếm 98,76%). 

Trong tháng, trên địa bàn tỉnh không xảy ra các ca, vụ ngộ độc thực phẩm. 

3. Giáo dục và đào tạo

Trong tháng, Sở Giáo dục và Đào tạo tiếp tục duy trì và thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm đã đặt ra cho toàn ngành giáo dục.

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã công bố kết quả thi tốt nghiệp THPT năm 2025. Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2025 toàn tỉnh có 6.767 thí sinh đăng ký dự thi với 6.736 học sinh đỗ tốt nghiệp đạt tỷ lệ 99,54% (trong đó: Kết quả xét công nhận tốt nghiệp THPT theo Chương trình GDPT 2006: Có 24 thí sinh đăng ký dự thi với 05 học sinh đỗ tốt nghiệp đạt tỷ lệ 20,83%; kết quả xét công nhận tốt nghiệp THPT theo Chương trình GDPT 2018: có 6.743 thí sinh đăng ký dự thi với 6.731 học sinh đỗ tốt nghiệp đạt tỷ lệ 99,82%). Công bố kết quả tuyển sinh vào lớp 10 trên địa bàn tỉnh. Tham gia hỗ trợ thực hiện đăng ký tuyển sinh cao đẳng, đại học. Chủ trì, phối hợp xây dựng kế hoạch tổ chức cuộc thi sáng tạo AI trong Giáo dục và Đào tạo. Báo cáo định kỳ Đề án 06 tháng 7/2025 trong lĩnh vực giáo dục đào tạo. Phối hợp quản lý hồ sơ cấp văn bằng, chứng chỉ theo Thông tư số 13/2025/TT-BGDĐT và Thông tư 21/2019/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Xây dựng Kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. 

4. Văn hoá, thể thao và du lịch

a) Lĩnh vực văn hóa, gia đình

Hoạt động Tuyên truyền cổ động: Tiếp tục triển khai xây dựng ma két, trang trí khánh tiết, in căng treo băng zôn khẩu hiệu, pano, cờ phướn...; viết bài, thu thanh tuyên truyền các sự kiện chính trị của đất nước, của tỉnh, ngành trên các phương tiện thông tin đại chúng . 

Hoạt động chiếu phim, phát hành sách: Tham gia Liên hoan phim Châu Á Đà Nẵng lần thứ III (DANAFF III). Tổ chức 04 buổi chiếu phim phục vụ chính trị; 20 buổi chiếu phim lưu động vùng cao cho 8,16 nghìn lượt người xem. Tính chung bẩy tháng năm 2025: Tổ chức 39 buổi chiếu phim phục vụ nhiệm vụ chính trị, phục vụ 7,59 nghìn lượt người xem; 633 buổi chiếu bóng vùng cao phục vụ hơn 180 nghìn lượt người xem; thực hiện dịch, lồng tiếng 02 phim bằng tiếng dân tộc Thái, Mông.

Hoạt động thư viện: Trong tháng, bổ sung mới 88 bản sách; cấp và đổi 1.200 thẻ bạn đọc; số lượt độc giả được Thư viện phục vụ 34.681 lượt; Tổng số lượt tài nguyên thông tin được phục vụ 76.298 lượt. Dự ước bẩy tháng năm 2025 hệ thống thư viện công cộng đã nhập bổ sung 9.901 bản sách; thực hiện cấp thẻ cho 5.471 độc giả; phục vụ trên 216,47 nghìn lượt độc giả; có trên 471,08 nghìn lượt tài nguyên thông tin được phục vụ.

Hoạt động phát huy giá trị di sản văn hóa: Trong tháng, Bảo tàng Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ và các điểm di tích đón 23,94 nghìn lượt khách đến tham quan, trong đó có 316 lượt khách nước ngoài. Tính chung bẩy tháng năm 2025 đón 231,68 nghìn lượt khách tham quan, giảm 79,8% so với cùng kỳ năm 2024, đạt 51,6% kế hoạch, (trong đó 4.165 lượt khách nước ngoài, giảm 19,13%, đạt 71,2% kế hoạch).

b) Lĩnh vực thể dục thể thao

Phong trào thể dục thể thao quần chúng tiếp tục được duy trì và phát triển trên địa bàn tỉnh. Toàn tỉnh hiện có trên 240 nghìn người luyện tập thể dục thể thao thường xuyên, có 452 câu lạc bộ thể thao cơ sở trong toàn tỉnh. Trong tháng đã tổ chức Giải Bóng đá Thiếu niên - Nhi đồng tỉnh Điện Biên năm 2025. Giải Pickleball chào mừng kỷ niệm 65 năm thành lập ngành Du lịch Việt Nam. 

Về thể thao thành tích cao và thể thao chuyên nghiệp: Tham gia Giải Vô địch các câu lạc bộ mạnh Karate quốc gia lần thứ XXV tại Đắk Lắk; Giải Cầu lông tranh cúp Bubadu Hà nội mở rộng. Tham gia giải Pickleball thanh thiếu niên 3 nước Trung Quốc, Việt Nam, Lào tại huyện Giang Thành, thành phố Phổ Nhĩ tỉnh Vân Nam, Trung Quốc.

c) Lĩnh vực du lịch

Dự ước tháng 7/2025 đón khoảng 48 nghìn lượt khách du lịch, trong đó khách quốc tế đạt 516 lượt; tổng doanh thu từ hoạt động du lịch ước đạt 86,8 tỷ đồng. Tính chung bẩy tháng năm 2025 lượng khách du lịch đạt 872,9 nghìn lượt, giảm 38,3% so với cùng kỳ năm 2024, đạt 65,8% kế hoạch. Trong đó: Khách quốc tế đạt 8.014 lượt, tăng 12,3%. Tổng doanh thu từ hoạt động du lịch đạt 1.578,9 tỷ đồng, giảm 38,27% so cùng kỳ năm trước, đạt 65,8% kế hoạch. 

Tư vấn, hỗ trợ, cung cấp thông tin cho 350 lượt khách du lịch, 08 lượt doanh nghiệp du lịch tìm hiểu thông tin về du lịch Điện Biên. 

5. Tai nạn giao thông, cháy nổ, vi phạm môi trường 

a) Tai nạn giao thông 

Từ 15/5/2025 đến 14/6/2025, trên địa bàn toàn tỉnh đã xảy ra 6 vụ tai nạn giao thông làm 01 người chết và 06 người bị thương. So cùng kỳ năm trước: Số vụ tai nạn không tăng, không giảm; số người chết tăng 01 vụ (cùng kỳ năm trước không có người chết); số người bị thương giảm 14,29%. Thiệt hại ước tính khoảng 50 triệu đồng. 

Lũy kế từ ngày 15/11/2024 đến ngày 14/6/2025 trên địa bàn tỉnh Điện Biên đã xảy 52 vụ tai nạn và va chạm giao thông, làm 17 người chết, 50 người bị thương. So cùng kỳ năm trước số vụ tai nạn giảm 10,34%; số người chết giảm 5,56%, số người bị thương giảm 21,87%. Nguyên nhân tai nạn do vi phạm tốc độ khi điều khiển phương tiện, người đi bộ sang đường sai quy định, vượt xe không đúng quy định, đi sai làn đường, phần đường; vi phạm về nồng độ cồn.

b) Cháy nổ

Từ 15/5/2025 đến 14/6/2025, trên địa bàn tỉnh xảy ra 01 vụ cháy nhà riêng lẻ, không có thiệt hại về người, ước giá trị thiệt hại khoảng 50 triệu đồng. Nguyên nhân cháy do sự cố thiết bị điện. Lũy kế từ 15/11/2024 đến 14/6/2025, trên địa bàn toàn tỉnh xảy ra 12 vụ cháy, tăng 71,43% so cũng kỳ năm trước, không có thiệt hại về người, ước thiệt hại khoảng 2.220 triệu đồng, tăng 58,23% so cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân gây ra cháy do sơ xuất trong quá trình sử dụng nguồn lửa và sự cố thiết bị điện.

c) Vi phạm môi trường

Trong tháng, các cơ quan chức năng đã phát hiện 7 vụ vi phạm môi trường và xử lý 20 vụ với tổng số tiền phạt 78,5 triệu đồng, giảm 65,53% so với tháng trước và giảm 59,19% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung bẩy tháng năm 2025 so cùng kỳ năm trước: Phát hiện 323 vụ vi phạm môi trường, giảm 8,24%; xử lý 325 vụ, tăng 6,21%; tổng số tiền phạt 1.556,94 triệu đồng, giảm 3,42%. Các vụ vi phạm môi trường chủ yếu là phá rừng làm nương, tàng trữ, mua bán, chế biến lâm sản trái pháp luật.

6. Thiệt hại do thiên tai 

Trong tháng báo cáo, trên địa bàn tỉnh xảy ra 02 vụ thiên tai do mưa lớn, làm chết 01 người, 03 ngôi nhà bị hư hỏng, làm hư hỏng 94,53 ha lúa và hoa màu. Ước thiệt hại khoảng 6.363,12 triệu đồng.

Lũy kế từ ngày 26/12/2024 đến ngày 25/6/2025 đã xảy ra 13 vụ thiên tai  trên địa bàn tỉnh Điện Biên làm 02 người chết và 02 người bị thương nhẹ, hư hại 24 ngôi nhà, hư hỏng 141,01 ha lúa và hoa màu, 33 con gia súc bị chết, 181 gia cầm bị chết, cuốn trôi. Uớc tổng thiệt hại khoảng 17.187,66 triệu đồng.

Tác giả bài viết: Thống kê tỉnh Điện Biên

Ghi rõ nguồn "Thống kê tỉnh Điện Biên" hoặc "https://thongkedienbien.nso.gov.vn" khi phát hành lại thông tin từ các nguồn này.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây