TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH ĐIỆN BIÊN THÁNG 9, QUÝ III, 9 THÁNG NĂM 2025

Thứ năm - 02/10/2025 17:27
Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh Điện Biên (GRDP) quý III/2025 tăng trưởng khá, với tốc độ tăng ước đạt 8,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,26%, đóng góp 0,38 điểm % vào mức tăng GRDP; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 9,71%, đóng góp 2,34 điểm %; khu vực dịch vụ tăng 8,51%, đóng góp 5,32 điểm %; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 5,71%, đóng góp 0,26 điểm %.

I. TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

1. Tốc độ tăng tổng sản phẩm 

Ước 9 tháng năm 2025, GRDP theo giá so sánh năm 2010 đạt 12.289,75 tỷ đồng, tăng 6,76% so với cùng kỳ năm trước (6 tháng đầu năm tăng 5,99%, quý III tăng 8,3%). Trong đó: Khu vực nông, lâm nghiệp thủy sản đạt 1.639,22 tỷ đồng, tăng 2,23%; khu vực công nghiệp và xây dựng đạt 2.512,53 tỷ đồng, tăng 6,78% (công nghiệp đạt 963,23 tỷ đồng, tăng 8,63%); khu vực dịch vụ đạt 7.610,14 tỷ đồng, tăng 7,86%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm 527,85 tỷ đồng, tăng 5,8%.

Theo giá hiện hành, GRDP 9 tháng năm 2025 ước đạt 24.867,42 tỷ đồng (trong đó: Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 3.239,81 tỷ đồng; khu vực công nghiệp và xây dựng đạt 5.091,51 tỷ đồng; khu vực dịch vụ đạt 15.468,37 tỷ đồng; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm đạt 1.067,72 tỷ đồng). Cơ cấu kinh tế chuyển dịch cơ bản theo đúng định hướng: Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 13,03%, giảm 0,86 điểm % so với cùng kỳ năm trước; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 20,48%, tăng 1,57 điểm %; khu vực dịch vụ chiếm 62,2%, giảm 0,67 điểm %; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 4,29%, giảm 0,04 điểm %.

2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản quý III chịu ảnh hưởng bởi yếu tố thời tiết, mưa lũ làm diện tích gieo trồng cây hằng năm giảm so với cùng kỳ năm trước. Tuy vậy, sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản 9 tháng năm 2025 vẫn đạt được nhiều kết quả tích cực, tiến độ gieo trồng các loại cây hoa màu đúng lịch thời vụ, nhiều sản phẩm sản xuất ra bán được giá. Chăn nuôi phát triển ổn định, tập trung kiểm soát các loại dịch bệnh, đặc biệt là dịch tả lợn Châu Phi. Công tác quản lý, bảo vệ, phòng chống chữa cháy rừng và chăm sóc rừng trồng được duy trì thường xuyên. Hoạt động nuôi trồng, khai thác thủy sản được duy trì ổn định.

2.1. Nông nghiệp

a) Trồng trọt

* Tháng 9 năm 2025:

Lúa Mùa: Tính đến ngày 20/9/2025, diện tích gieo cấy lúa mùa đạt 43.698,73 ha, giảm 2,42%  so chính thức cùng kỳ năm trước, đạt 96,58% kế hoạch. 

Một số cây hàng năm khác: Trong tháng người dân tiếp tục làm đất, gieo trồng các loại cây hàng năm, dự ước toàn tỉnh triển khai gieo trồng được 3.714,33 ha, giảm 8,12% so cùng kỳ năm trước.

Cây lâu năm: Trong tháng, các địa phương tập trung chăm sóc những diện tích hiện có, đồng thời phát cỏ, tỉa cành, bón phân để đảm bảo cho cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt. Tiếp tục thu hoạch sản phẩm trong kỳ phục vụ nhu cầu thị trường.

* Ước 9 tháng năm 2025:

Cây hằng năm: Toàn tỉnh gieo trồng được 102.074,51 ha cây hằng năm các loại, giảm 2,99% so với cùng kỳ năm trước, nguyên nhân do chuyển đổi mục đích sử dụng đất, chịu tác động lớn từ nhiều yếu tố như thị trường tiêu thụ, thời tiết, giá cả. Diện tích, sản lượng một số cây trồng chính của tỉnh như sau: 

- Cây lúa: Diện tích gieo trồng được 53.461,97 ha , giảm 2,11%. Trong đó:

+ Lúa ruộng: Diện tích gieo trồng được 31.246,5 ha, tăng 0,4%; ước sản lượng thu hoạch 59.642,01 tấn.

+ Lúa nương: Diện tích gieo trồng được 22.215,47 ha, giảm 5,44%, nguyên nhân do tháng 8/2025 xuất hiện nhiều đợt mưa lớn kéo dài gây sạt lở, cuốn trôi gần 900 ha; một số xã chuyển đổi cơ cấu cây trồng lúa nương sang trồng cà phê, mắc ca… Đến thời điểm 20/9/2025, chưa cho diện tích thu hoạch.

- Cây ngô: Diện tích gieo trồng được 24.024,21 ha, giảm 2,68%, do người dân một số xã vùng cao chuyển đổi trồng ngô trên các sườn đồi sang trồng cà phê, mắc ca theo Chương trình mục tiêu quốc gia năm 2025; sản lượng đạt 72.399,92 tấn, giảm 0,82%.

- Cây sắn: Diện tích gieo trồng được 15.783,3 ha, giảm 6,24% . Năng suất đạt 96,38 tạ/ha, tăng 3,08%; sản lượng đạt 152.114,74 tấn, giảm 3,36%.

- Cây đậu tương: Diện tích gieo trồng được 524,8 ha, tăng 1,91%; sản lượng đạt 165,81 tấn, giảm 42,02%.

- Cây lạc: Diện tích gieo trồng được 795,39 ha, giảm 24% ; sản lượng đạt 741,2 tấn, tăng 0,41%.

- Rau các loại: Diện tích gieo trồng được 4.814,99 ha, tăng 1,47%; sản lượng đạt 65.957,11 tấn, tăng 2,01%.

- Đậu các loại: Diện tích gieo trồng được 348,50 ha, tăng 2,44%; sản lượng đạt 137,66 tấn, tăng 0,16%.

Cây lâu năm: Tình hình sản xuất cây lâu năm trên địa bàn tỉnh 9 tháng năm 2025 đạt được kết quả khá cao so với năm trước, đặc biệt là đối với cây ăn quả; một số loại cây có xu hướng tăng cao diện tích, góp phần làm chuyển đổi mục đích, cơ cấu cây trồng phù hợp, giúp xóa đói, giảm nghèo cho người dân; đồng thời đóng góp tăng trưởng cho ngành nông nghiệp và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Tổng diện tích hiện có 30.968,73 ha, tăng 23,33% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích cây ăn quả chiếm 50,39% tổng diện tích cây lâu năm. 

Diện tích hiện có, sản lượng thu hoạch một số cây trọng điểm của tỉnh: Dứa 631,89 ha, tăng 13,01%; sản lượng thu được 5.220,92 tấn, tăng 16,83%. Nhãn, vải 548,01, tăng 0,32%; sản lượng thu được 1.890,36 tấn, tăng 49,77% . Mắc ca 11.481,95 ha  (chiếm tỷ trọng 73,57% so với tổng diện tích cây ăn quả), tăng 7,17%; sản lượng thu được 1.569,5 tấn, tăng 10,55%. Cao su 5.018,76 ha, giảm 0,11%; sản lượng thu được 3.621,27 tấn, tăng 3,23%. Cà phê 8.082,13 ha, tăng 98,77%; sản lượng thu được 720 tấn, tăng 10,77%. Chè 649,61 ha, tăng 0,5%; sản lượng thu được 118,86 tấn, tăng 3,46%. Sa nhân 1.559,57 ha, tăng 121,68% , sản lượng thu được 79,52 tấn.

b) Chăn nuôi

Tháng 9 năm 2025, chăn nuôi gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh phát triển tương đối ổn định; các ngành chức năng tập trung tăng cường kiểm tra, kiểm soát các loại dịch bệnh, đặc biệt là Dịch tả lợn Châu Phi.

Tính chung 9 tháng, số con và sản lượng thịt hơi xuất chuồng đều tăng so với cùng kỳ do có các kỳ nghỉ lễ, Tết dài ngày; trên địa bàn tỉnh diễn ra nhiều hoạt động văn hoá lớn; nhu cầu tiêu thụ các loại sản phẩm nông nghiệp, phục vụ nhà hàng, quán ăn, đặc sản Tây Bắc làm quà biếu với số lượng lớn. Ngoài ra, người dân đã chọn giống vật nuôi thích hợp, có chất lượng cao, nuôi với quy mô đàn hợp lý; tận dụng nguồn nguyên liệu sẵn có trong sản xuất nông nghiệp phối trộn làm thức ăn để giảm chi phí đầu vào, tăng hiệu quả trong chăn nuôi; giá thịt lợn hơi xuất chuồng phần lớn giao động từ 60.000đ/kg - 70.000đ/kg, giúp người dân phần nào yên tâm sản xuất và đầu tư vào chăn nuôi.

* Tình hình thiệt hại do dịch bệnh: 

Tháng 9 năm 2025, có 3.764 con lợn bị chết và tiêu hủy do dịch tả lợn Châu Phi. Trong tháng, không thực hiện công tác tiêm phòng; kiểm dịch động vật được 370 con gia súc, 638 kg thịt trâu bò xuất ngoài tỉnh; kiểm soát giết mổ được 5.661 con gia súc.

Tính chung 9 tháng, có 8.447 con lợn bị chết và tiêu hủy do dịch tả lợn Châu Phi xảy ra tại 35/45 xã, phường. Thực hiện công tác tiêm phòng được 130.300 liều vắc xin Lở mồm long móng; 200 liều vắc xin Dịch tả lợn Châu Phi; 48.785 liệu vắc xin bệnh dại; kiểm dịch động vật được 13.149 con gia súc, 13.503 kg thịt trâu bò xuất ngoài tỉnh; kiểm soát giết mổ được 25.305 con gia súc. 

2.2. Lâm nghiệp

Quý III/2025, diện tích rừng trồng mới tập trung trong ước đạt 191,82 ha, giảm 79,73% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng, diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 191,82 ha, giảm 79,73% so với cùng kỳ năm trước; diện tích rừng trồng được chăm sóc 838,6 ha; diện tích rừng được khoanh nuôi xúc tiến tái sinh 2.640,58 ha; số lượng cây lâm nghiệp trồng phân tán 446,66 nghìn cây; uơm giống cây lâm nghiệp 2.082,97 nghìn cây; giao khoán bảo vệ rừng 317.849,4 ha, tăng 0,45%.

Sản lượng gỗ khai thác quý III/2025 đạt 2.858 m3, tăng 4,42%; sản lượng củi khai thác đạt 201.795 ster, giảm 1,31%. Tính chung 9 tháng, sản lượng gỗ khai thác đạt 8.377 m3, giảm 3,48%; sản lượng củi khai thác đạt 582.822 ster, giảm 0,04%.

Diện tích rừng bị thiệt hại quý III/2025 là 0,61 ha, giảm 94,16% so với cùng kỳ năm trước, do bị chặt, phá. Tính chung 9 tháng, toàn tỉnh có 92,56 ha rừng bị thiệt hại, giảm 15,25% so với cùng kỳ năm trước (trong đó: diện tích rừng bị chặt, phá là 91,84 ha, tăng 5,09%; diện tích rừng bị cháy là 0,72 ha, giảm 96,71%).

Tháng 9/2025, toàn tỉnh xảy ra 8 vụ vi phạm luật Lâm nghiệp, trong đó 3 vụ phá rừng, 5 vụ vi phạm khác; cơ quan chức năng đã tịch thu 4,52 m3; tổng số tiền thu nộp ngân sách 184,6 triệu đồng. Tính chung 9 tháng, toàn tỉnh xảy ra 317 vụ vi phạm luật Lâm nghiệp, trong đó 282 vụ cháy, phá rừng và 35 vụ vi phạm khác; cơ quan chức năng đã tịch thu 47,75 m3; tổng số tiền thu nộp ngân sách trong tháng 1.612,49 triệu đồng.

2.3. Thủy sản

Nuôi trồng và khai thác thuỷ sản trên địa bàn tỉnh được duy trì ổn định, dự ước toàn tỉnh có 2.734,49 ha ao, hồ nuôi trồng thủy sản, giảm 0,37% so với cùng kỳ năm trước (trong đó: diện tích nuôi cá 2.732,99 ha). Các mô hình nuôi cá lồng bè trên địa bàn tỉnh vẫn được quan tâm và đầu tư 335 lồng với thể tích 45.626 m³, mô hình nuôi cá hồi bằng bể bồn tại xã Quài Tở với 600 m3. 

Sản lượng thủy sản tháng 9/2025 ước đạt 442,58 tấn, tăng 4,24% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Cá đạt 433,08 tấn, tăng 4,28%; tôm đạt 3,35 tấn, tăng 1,52%; thủy sản khác đạt 6,15 tấn, tăng 2,84%. Sản lượng thủy sản quý III ước đạt 1.301,99 tấn, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Cá đạt 1.272,25 tấn, tăng 4,23%; tôm đạt 9,25 tấn, tăng 2,21%; thủy sản khác đạt 20,49 tấn, tăng 3,12%. Tính chung 9 tháng, sản lượng thủy sản ước đạt 3.805,68 tấn, tăng 3,78% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Cá đạt 3.697,82 tấn, tăng 3,83%; tôm đạt 32,3 tấn, tăng 1,86%; thủy sản khác đạt 75,56 tấn, tăng 2,33%.

Sản lượng thủy sản nuôi trồng tháng 9/2025 ước đạt 415,28 tấn, tăng 4,28% so với thực hiện cùng kỳ năm trước, trong đó: Cá đạt 411,9 tấn, tăng 4,3%; tôm đạt 1,46 tấn, tăng 2,1%; thủy sản khác 1,92 tấn, tăng 2,67%. Sản lượng thủy sản nuôi trồng quý III ước đạt 1.227,61 tấn, tăng 4,25% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Cá đạt 1.216,35 tấn, tăng 4,25%; tôm đạt 3,91 tấn, tăng 3,17%; thủy sản khác đạt 7,35 tấn, tăng 3,81%. Tính chung 9 tháng, sản lượng thủy sản nuôi trồng ước tính đạt 3.580,27 tấn, tăng 3,84% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Cá đạt 3.540,38 tấn, tăng 3,86%; tôm đạt 10,64 tấn, tăng 1,92%; thủy sản khác đạt 29,25 tấn, tăng 1,63%.

Sản lượng thuỷ sản khai thác tháng 9/2025 ước đạt 27,3 tấn, tăng 3,57% so với thực hiện cùng kỳ năm trước, bao gồm: Cá đạt 21,18 tấn, tăng 3,93%; tôm đạt 1,89 tấn, tăng 1,07%; thủy sản khác 4,23 tấn, giảm 2,92%. Sản lượng thủy khai thác quý III ước đạt 74,38 tấn, tăng 3,39% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Cá đạt 55,9 tấn, tăng 3,73%; tôm đạt 5,34 tấn, tăng 1,52%; thủy sản khác đạt 13,14 tấn, tăng 2,74%. Tính chung 9 tháng, sản lượng thủy sản khai thác ước đạt 225,41 tấn, tăng 2,95% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Cá đạt 157,44 tấn, tăng 3,16%; tôm đạt 21,66 tấn, tăng 1,83%; thủy sản khác đạt 46,31 tấn, tăng 2,77%.

3. Sản xuất công nghiệp

Hoạt động sản xuất kinh doanh trong quý III/2025 tăng trưởng cao so quý trước và so cùng kỳ năm trước, là quý cao điểm của mùa mưa, lượng mưa năm nay lớn và kéo dài, thuận lợi cho ngành sản xuất thủy điện nên sản lượng điện tăng mạnh, tác động lớn đến chỉ số chung của toàn ngành công nghiệp. Tính chung 9 tháng, hoạt động công nghiệp trên địa bàn tăng trưởng khá, nguyên nhân chủ yếu là do tác động tích cực của 3 ngành: công nghiệp chế biến; sản xuất và phân phối điện và ngành khai khoáng.

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng 9/2025 ước giảm 7,56% so với tháng trước và tăng 5% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành khai khoáng tăng 33,72% và tăng 20,82%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chế tạo tăng 6,36% và tăng 17,97%; ngành sản xuất và phân phối điện giảm 15,42% và giảm 1,91% ; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 1,07% và tăng 11,28%.

Quý III, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước tính tăng 80,57%  so với quý trước và tăng 10,89% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Công nghiệp khai khoáng giảm 12,59% và tăng 15,36%; công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 2,43% và tăng 15,87%; sản xuất và phân phối điện tăng 246,4% và tăng 8,67%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 2,03% và tăng 8,09%.

Tính chung 9 tháng, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 9,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành khai khoáng tăng 18,1%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,25%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 7,93% ; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,39%.

Chỉ số sản xuất 9 tháng năm 2025 của một số ngành công nghiệp cấp II tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Khai thác than cứng và than non tăng hơn 4,5 lần; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 20,3%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 18,49%; sản xuất đồ uống tăng 13,88%; dệt tăng 11,5%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 10,33%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc và thiết bị tăng 10,19%. Ở chiều ngược lại, chỉ có ngành khai thác, xử lý và cung cấp nước giảm 2,26%.

Một số sản phẩm công nghiệp trong 9 tháng năm 2025 tăng cao với cùng kỳ năm trước: Xi măng Portland đen tăng 19,07% (đây là một trong những sản phẩm chiếm tỷ trọng lớn và có tác động mạnh đến chỉ số chung của toàn ngành); than đá (than cứng) loại khác tăng hơn 4,5 lần; sản phẩm in khác (quy khổ 13cmx19cm) tăng 25,56%; giường bằng gỗ các lọai tăng 10,31%; đá xây dựng tăng 9,32%; điện sản xuất tăng 7,95%; điện thương phẩm tăng 7,36%. Ở chiều ngược lại, một số sản phẩm giảm so với cùng kỳ năm trước: Báo in (quy khổ 13cmx19cm) giảm 16,64%; nước uống được giảm 1,73%.

Như vậy, trong vòng 5 năm qua, chỉ số IIP luôn có mức tăng giảm không đồng đều giữa các ngành cấp I, đặc biệt ngành thủy điện phụ thuộc hoàn toàn vào yếu tố khách quan từ thời tiết nên ảnh hưởng đến kết quả dự báo sản lượng điện và chỉ số sản xuất chung của toàn ngành. 

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 9 năm 2025 tăng 37,91% so với tháng trước và tăng 14,04% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng, tăng 12,8% so với cùng kỳ năm trước, trong khi chỉ số sản xuất tăng 10,25%; cho thấy các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đã xuất bán được một lượng lớn hàng hóa đã sản xuất từ kỳ trước làm tăng doanh thu, giúp luân chuyển nguồn vốn để tái đầu tư sản xuất kinh doanh.

Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/9/2025 tăng 1,93% so với tháng trước, trong đó chủ yếu ở khu vực doanh nghiệp ngoài Nhà nước với mức tăng 3,18%. So với tháng cùng kỳ năm trước tăng 5,8%, trong đó chủ yếu ở khu vực doanh nghiệp ngoài Nhà nước với mức tăng 10,28%. Tính chung 9 tháng, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tăng 3,88% (khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 1,63%, khu vực doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 5,45%).  

4. Hoạt động của doanh nghiệp

4.1. Tình hình đăng ký doanh nghiệp

Trong 9 tháng, có 184 doanh nghiệp thành lập mới, so với cùng kỳ tăng 49,6%, với số vốn đăng ký 1.787 tỷ đồng, tăng 235%; 135 doanh nghiệp thông báo tạm ngừng kinh doanh, 19 doanh nghiệp giải thể (cùng kỳ năm 2024 có 10 doanh nghiệp giải thể), có 59 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động. Lũy kế có 1.490 doanh nghiệp đang hoạt động với vốn đăng ký 37.073 tỷ đồng. Phần lớn quy mô của các doanh nghiệp còn nhỏ, chưa tương xứng với tiềm năng và nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

4.2. Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp 

Trong bối cảnh có nhiều khó khăn, thách thức và thuận lợi đan xen trong công cuộc cải cách, tinh gọn tổ chức bộ máy và xây dựng chính quyền địa phương hai cấp, tạo lập không gian phát triển mới đã ảnh hưởng không nhỏ đến định hướng hoạt động của các doanh nghiệp. Trong quý III/2025, trên địa bàn tỉnh bị ảnh hưởng lớn do mưa lớn kéo dài gây ra lũ quét và sạt lở đất gây thiệt hại cả người và tài sản; một số doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc sản xuất và tìm kiếm đơn hàng. 

Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý III/2025: Trong tổng số 14 doanh nghiệp được hỏi, có 7,14% đánh giá tốt hơn quý II; 28,57% đánh giá không thay đổi; 64,29% đánh giá khó khăn hơn nên chỉ số cân bằng của quý III là -57,14%. Dự kiến quý IV, có 85,71% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt lên; 7,14% doanh nghiệp cùng dự báo ổn định hoặc khó khăn hơn so với quý trước. Chỉ số cân bằng quý IV so với quý III là +78,57%, dự báo những tháng cuối năm hoạt động sản xuất rầm rộ và phấn đấu về đích đạt hoặc vượt mục tiêu đề ra. 

5. Xây dựng 

Kết quả hoạt động xây dựng trên địa bàn tỉnh 9 tháng năm 2025 đạt nhiều kết quả đáng ghi nhận. Công tác quy hoạch có nhiều chuyển biến tích cực, với việc hoàn thành 05 đồ án quan trọng , trong đó nổi bật là các quy hoạch gắn với Cảng hàng không Điện Biên, khu vực cửa khẩu A Pa Chải và các khu đô thị mới… Công tác quản lý về đầu tư xây dựng tiếp tục được tập trung chỉ đạo, kiểm soát chặt chẽ chất lượng, đẩy mạnh tiến độ thi công các công trình xây dựng.

Giá trị sản xuất xây dựng theo giá hiện hành III/2025 đạt 2.957,89 tỷ đồng, tăng 3,03% so với quý trước và tăng 9,24% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng, giá trị sản xuất xây dựng theo giá hiện hành ước đạt 8.019,55 tỷ đồng, tăng 6,58% so với cùng kỳ năm trước.

 Chia theo loại hình sở hữu: Doanh nghiệp nhà nước đạt 2,22 tỷ đồng (chiếm 0,03%), giảm 97,26%. Doanh nghiệp ngoài Nhà nước đạt 4.625,48 tỷ đồng (chiếm 57,68%), tăng 8,99%. Các loại hình khác bao gồm xây dựng của các xã, phường; hoạt động của các đội xây dựng cá thể và xây dựng tự làm, tự ở của các hộ gia đình đạt 3.391,85 tỷ đồng (chiếm 42,29%), tăng 6,01%. 

Chia theo loại công trình: Công trình nhà ở đạt 3.223,94 tỷ đồng (chiếm 40,2%), tăng 20,32%. Công trình nhà không để ở đạt 1.330,85 tỷ đồng (chiếm 16,6%), giảm 19,22%. Công trình kỹ thuật dân dụng đạt 3.312,54 tỷ đồng (chiếm 41,31%), tăng 8,85%. Hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 152,23 tỷ đồng (chiếm 1,9%), giảm 1,31%.

6. Thương mại, dịch vụ, vận tải.

6.1. Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 

Hoạt động thương mại và dịch vụ tháng Chín tăng trưởng khá với tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 2,32% so với tháng trước và tăng 16,31% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 11,61% so với cùng kỳ năm trước, trong đó quý II tăng 2,5%, quý III tăng 15,98%.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 9 năm 2025 ước tính đạt 2.492,18 tỷ đồng, tăng 2,32% so với tháng trước, tăng 16,31% so với cùng kỳ năm trước. Trong quý III, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 7.312,80 tỷ đồng, tăng 3,85% so với quý trước và tăng 15,98% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 21.187,77 tỷ đồng, tăng 11,61% so với cùng kỳ năm trước.

* Bán lẻ hàng hoá 

Doanh thu tháng 9/2025 ước đạt 2.046,54 tỷ đồng, tăng 2,07% so với tháng trước, tăng 15,9% so với cùng kỳ năm trước. Tình hình hoạt động bán lẻ hàng hóa tháng 9 năm 2025 duy trì đà tăng trưởng ổn định, nhiều nhóm ngành hàng tiếp tục tăng trưởng so với tháng trước và cùng kỳ. Tuy nhiên hiện nay do tình hình hàng giả, hàng không rõ nguồn gốc nên người tiêu dùng có xu hướng thận trọng và khắt khe hơn trong việc chọn lựa và chi tiêu. Ngành hàng đá quý, kim loại quý và sản phẩm giảm nhẹ so với tháng trước; so cùng kỳ vẫn có xu hướng tăng do giá vàng liên tục tăng trong thời gian gần đây; nhóm ngành hàng thiết yếu tăng trưởng ổn định; nhóm vật phẩm văn hóa, giáo dục tăng do nhu cầu mua sắm cho đầu năm học tăng; nhóm ngành gỗ và vật liệu xây dựng tăng cao do nhu cầu xây dựng trong thời gian gần đây tăng cao tác động làm giá vật liệu xây dựng cát, đá, gạch… liên tục tăng.

Doanh thu hoạt động bán lẻ ước tính quý III đạt 6.011,80 triệu đồng, tăng 4,69% với quý trước, tăng 15% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng, ước đạt 17.348,92 tỷ đồng, tăng 11,72% so với cùng kỳ và tăng ở tất các ngành hàng. 

* Dịch vụ lưu trú và ăn uống 

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng 9 năm 2025 ước đạt 128 tỷ đồng, tăng 8,22% so với tháng trước và tăng 16,08% so với cùng kỳ năm trước. Quý III, đạt 362,37 tỷ đồng, giảm 7,34% so với quý trước và tăng 27,53% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng, đạt 1.107,54 tỷ đồng, tăng 1,92% so cùng kỳ năm trước, bao gồm: Dịch vụ lưu trú đạt 133,92 tỷ đồng, tăng 0,63%; dịch vụ ăn uống đạt 973,63 tỷ đồng, tăng 2,10%.

* Dịch vụ khác

Doanh thu một số ngành dịch vụ khác tháng 9 năm 2025 ước tính đạt 317,09 tỷ đồng, tăng 1,67% so với tháng trước, tăng 19,08% so với cùng kỳ năm trước. Quý III, đạt 937,06 tỷ đồng, tăng 3,45% so với quý trước và tăng 18,19% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng, đạt 2.727,58 tỷ đồng, tăng 15,38% so với cùng kỳ năm trước. 

6.2. Hoạt động Vận tải

Hoạt động vận tải, kho bãi tháng 9 năm 2025 sôi động, đáp ứng nhu cầu đi lại, du lịch của người dân trong dịp Quốc khánh 02/9 và các sự kiện văn hoá của tỉnh… Đồng thời, phục vụ vận chuyển hàng hóa, nông sản trên địa bàn làm tăng doanh thu của hoạt động vận tải, kho bãi. So với cùng kỳ năm trước, vận chuyển hành khách tháng 9 tăng 15,27% và luân chuyển tăng 13,92%; vận chuyển hàng hóa tăng 17,68% và luân chuyển tăng 18,26%.

Tính chung 9 tháng, vận chuyển hành khách giảm 0,54% so với cùng kỳ năm trước, luân chuyển hành khách giảm 0,81%; vận chuyển hàng hóa tăng 18,12%, luân chuyển hàng hóa tăng 18,61%. 

Tổng doanh thu của hoạt động vận tải, kho bãi ước thực hiện tháng 9 năm 2025 đạt 177,11 tỷ đồng, tăng 1,37% so với tháng trước và tăng 17,31% so với cùng kỳ năm trước. Quý III, đạt 524,67 tỷ đồng, tăng 3,65% so quý trước và tăng 16,91% so cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng, đạt 1.508,67 tỷ đồng, tăng 14,07% so cùng kỳ năm trước (bao gồm: Vận tải hành khách đạt 298,75 tỷ đồng, giảm 0,65%; vận tải hàng hóa đạt 1.196,6 tỷ đồng, tăng 18,59%; hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 13,32 tỷ đồng, tăng 3,11%). 

Vận tải hành khách tháng 9 năm 2025 ước đạt 312,2 nghìn lượt khách vận chuyển, tăng 1,29% so với tháng trước, tăng 15,27% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển 48,87 triệu HK.km, tăng 1,35% và 13,92%. Quý III, vận tải hành khách đạt 926,41 nghìn hành khách vận chuyển, tăng 2,65% so quý trước và tăng 14,61% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển 145 triệu HK.km, tăng 2,35% so quý trước và tăng 13,1% so với cùng kỳ năm trước.

Tính chung 9 tháng, vận tải hành khách ước đạt 2.685,78 nghìn hành khách vận chuyển, giảm 0,54% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển 421,39 triệu HK.km, giảm 0,81%.

Vận tải hàng hóa tháng 9 năm 2025 ước đạt 913,44 nghìn tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 1,4% so với tháng trước và tăng 17,68% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển 41,79 triệu tấn.km, tăng 1,38% so với tháng trước và tăng 18,26% so với cùng kỳ năm trước. Quý III, vận tải hàng hóa đạt 2.705,2 nghìn tấn, tăng 3,52% so quý trước và tăng 17,2% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển 123,77 triệu tấn.km, tăng 3,8% so quý trước và tăng 17,94% so với cùng kỳ năm trước.

Tính chung 9 tháng, vận tải hàng hóa đạt 7.788,86 nghìn tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 18,12% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển 355,08 triệu tấn.km, tăng 18,61%.

* Vận tải hàng không

Doanh thu dịch vụ của Cảng hàng không Điện Biên 9 tháng năm 2025 ước đạt 9.288,58 triệu đồng, giảm 29,15% so với cùng kỳ năm trước. Số lượt khách thông qua Cảng hàng không ước đạt 130.108 hành khách (chiều khách đi 64.035 hành khách, chiều khách đến 66.073 hành khách), so với cùng kỳ năm trước số lượt khách giảm 27,22% (chiều khách đi giảm 28,31%, chiều khách đến giảm 26,13%). Số lượng hàng hóa bốc xếp qua Cảng hàng không ước đạt 0,77 tấn, giảm 78,46% so với cùng kỳ năm trước.

6.3. Bưu chính viễn thông

Bưu chính phát triển ổn định, hạ tầng viễn thông phát triển từng bước đáp ứng vai trò là hạ tầng số, hạ tầng kinh tế kỹ thuật quan trọng của Chính phủ số thúc đẩy chuyển đổi số, phát triển kinh tế số, xã hội số; chất lượng cung cấp dịch vụ viễn thông, internet được nâng cao, đáp ứng ngày một tốt hơn nhu cầu thị trường.

Tổng doanh thu dịch vụ bưu chính viễn thông 9 tháng năm 2025 ước đạt 681,14 tỷ đồng (trong đó: doanh thu dịch vụ bưu chính, chuyển phát đạt 105,03 tỷ đồng; doanh thu dịch vụ viễn thông đạt 576,11 tỷ đồng), so với cùng kỳ năm trước tăng 0,24% (trong đó: dịch vụ bưu chính, chuyển phát tăng 0,22%, dịch vụ viễn thông giảm 0,3%).

 Cuối tháng 9 năm 2025, số thuê bao điện thoại ước đạt 479.732 thuê bao, (trong đó: thuê bao cố định đạt 4.045 thuê bao; thuê bao di động đạt 475.687 thuê bao); so với cùng kỳ năm trước giảm 6,89% (trong đó: thuê bao cố định giảm 14,52%; thuê bao di động giảm 6,82%). Số thuê bao internet ước đạt 78.982 thuê bao, so với cùng kỳ năm trước tăng 7,33%.

II. ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ, KIỂM SOÁT LẠM PHÁT

1. Hoạt động ngân hàng 

Hoạt động huy động vốn: Tổng nguồn vốn huy động ước thực hiện đến 30/9/2025 là 23.431 tỷ đồng, tăng 9,82% (+2.095 tỷ đồng) so với cuối năm 2024. Đến 31/12/2025, huy động vốn ước đạt 24.330 tỷ đồng, tăng 14,03% (+2.994 tỷ đồng) so với cuối năm 2024.

Hoạt động tín dụng: Tổng dư nợ cho vay của các tổ chức tín dụng trên địa bàn đến 30/9/2025, tổng dư nợ ước đạt 21.813 tỷ đồng, giảm 5,56% (-1.284 tỷ đồng) so với cuối năm 2024. Đến 31/12/2025, dư nợ ước đạt 23.300 tỷ đồng, tăng 0,88% (+203 tỷ đồng).

Nợ xấu của các ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách xã hội ước thực hiện đến ngày 30/9/2025 là 275 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 1,27%/tổng dư nợ. Các ngân hàng tiếp tục kiểm soát chặt chẽ các nhóm nợ, nâng cao chất lượng tín dụng, thực hiện tốt công tác rà soát và xử lý nợ, phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro theo đúng quy định. Theo kế hoạch năm 2025, tỷ lệ nợ xấu trên địa bàn được kiểm soát dưới 3%.

2. Đầu tư phát triển

Vốn đầu tư phát triển trên địa bàn 9 tháng đầu năm 2025 tăng trưởng còn thấp, chưa đạt được như kế hoạch đề ra; ước tính đạt 12.148,57 tỷ đồng, giảm 0,82% so với cùng kỳ năm trước, đạt 43,47% kế hoạch (trong đó: Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý giảm 8,92% so với cùng kỳ năm trước và đạt 65,26% kế hoạch).

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý tháng 9 năm 2025 ước đạt 341,04 tỷ đồng, tăng 3,03% so với tháng trước, tăng 3,51% so với cùng kỳ năm trước. Bao gồm: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 317,90 tỷ đồng, tăng 3,07% và giảm 0,54%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 23,13 tỷ đồng, tăng 2,53% và tăng 135,12%. 

Quý III, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 1.038,76 tỷ đồng, tăng 22,9% so với quý trước và tăng 8,32% so với cùng kỳ năm trước. Bao gồm: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 968,44 tỷ đồng, tăng 18,47% và tăng 3,89%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 70,32 tỷ đồng, tăng 153,76% và tăng 163,02%.  

Tính chung 9 tháng, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý đạt 2.418,67 tỷ đồng, giảm 8,92% so với cùng kỳ năm trước, đạt 65,26% kế hoạch. Bao gồm: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 2.302,86 tỷ đồng, giảm 11%, đạt 65,61% kế hoạch; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 115,80 tỷ đồng, tăng 69,99%, đạt 59,01% kế hoạch.

Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh tháng 9 năm 2025 ước đạt 1.579,56 tỷ đồng, tăng 4,55% so với tháng trước, tăng 7,31% so với cùng kỳ năm trước. Bao gồm: Vốn Nhà nước trên địa bàn đạt 626,39 tỷ đồng, tăng 5,77% và giảm 6,17% (trong đó: vốn Trung ương quản lý đạt 231,58 tỷ đồng, tăng 8,05% và giảm 23,6%; vốn địa phương quản lý đạt 394,81 tỷ đồng, tăng 4,47% và tăng 8,33%); vốn ngoài Nhà nước đạt 953,17 tỷ đồng, tăng 3,77% và tăng 18,5%.

Quý III, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội ước đạt 4.657,69 tỷ đồng, tăng 10,18% so với quý trước và tăng 7,57% so với cùng kỳ năm trước. Bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước ước đạt 1.853,56 tỷ đồng, tăng 17,55% và giảm 5,83%; khu vực ngoài Nhà nước đạt 2.804,13 tỷ đồng, tăng 5,8% và tăng 18,74%.

Tính chung 9 tháng, vốn đầu tư phát triển toàn xã hội ước đạt 12.148,57 tỷ đồng, giảm 0,82% so với cùng kỳ năm trước, đạt 43,47% kế hoạch. Bao gồm: Vốn Nhà nước trên địa bàn đạt 4.625,44 tỷ đồng, giảm 17,17%, đạt 36,37% kế hoạch (vốn Trung ương quản lý đạt 1.824,44 tỷ đồng, giảm 30,72%, đạt 21,60% kế hoạch; vốn địa phương quản lý đạt 2.801 tỷ đồng, giảm 5,07%, đạt 65,61% kế hoạch); vốn ngoài Nhà nước đạt 7.523,13 tỷ đồng, tăng 12,87%, đạt 49,39% kế hoạch.

3. Thu, chi ngân sách Nhà nước

Thu ngân sách Nhà nước 9 tháng năm 2025 ước tăng 57,87% so với cùng kỳ năm trước. Chi ngân sách Nhà nước ước tăng 27,16% so với cùng kỳ năm trước, đảm bảo các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý nhà nước, cũng như chi trả kịp thời cho các đối tượng theo quy định.

3.1. Thu ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước tháng 9 năm 2025 ước đạt 201,74 tỷ đồng. Lũy kế tổng thu ngân sách Nhà nước 9 tháng đạt 1.736,41 tỷ đồng, tăng 57,87% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó:

- Thu nội địa tháng 9 năm 2025 ước đạt 194,05 tỷ đồng. Lũy kế 9 tháng, ước đạt 1.359,39 tỷ đồng (chiếm 78,29%), tăng 45,89% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Thu từ doanh nghiệp nhà nước ước đạt 206,5 tỷ đồng (chiếm 11,89%), tăng 8,98%; thu từ công, thương nghiệp ngoài quốc doanh ước đạt 338,23 tỷ đồng (chiếm 19,48%), tăng 15,17%; các khoản thu về nhà, đất ước đạt 388,5 tỷ đồng (chiếm 22,37%), tăng gần 2,5 lần.

- Thu cân đối hoạt động xuất nhập khẩu tháng 9 năm 2025 ước đạt 3,7 tỷ đồng. Lũy kế 9 tháng, ước đạt 14,37 tỷ đồng (chiếm 0,83%), giảm 31,03% so với cùng kỳ năm trước. 

3.2. Chi ngân sách Nhà nước

Tổng chi ngân sách Nhà nước tháng 9 năm 2025 ước đạt 1.678,98 tỷ đồng. Lũy kế 9 tháng, ước đạt 13.986,49 tỷ đồng, tăng 27,16% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Chi đầu tư phát triển đạt 3.574,17 tỷ đồng (chiếm 25,55%), tăng 4,81%; chi thường xuyên đạt 10.407,42 tỷ đồng (chiếm 74,41%), tăng 37,26%.

4. Hoạt động xuất - nhập khẩu 

Tình hình hoạt động xuất nhập khẩu, dịch vụ và hoạt động trao đổi thương mại biên giới 9 tháng năm 2025 diễn ra ổn định, không có tình trạng ùn tắc hàng hóa tại các cửa khẩu. Tình hình xuất nhập khẩu qua cửa khẩu quốc tế Tây Trang có phần sụt giảm so với những năm trước do: Cơ sở hạ tầng giao thông xuống cấp trầm trọng; phía Lào đang đầu tư xây dựng toà nhà liên hiệp, có phần ảnh hưởng đến việc thực hiện các thủ tục thông quan; đồng kíp mất giá.

Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ thực hiện quý III ước đạt 36,90 triệu USD, tăng 89,65% so với thực hiện cùng kỳ năm trước. Trong đó: Xuất khẩu hàng hóa ước đạt 18,63 triệu USD, giảm 33,23%; nhập khẩu hàng hóa ước đạt 18,27 triệu USD tăng 37,78%. 

Ước tổng giá trị xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ 9 tháng đạt 103,1 triệu USD, tăng 5,93% so với cùng kỳ năm trước, đạt 73,64% kế hoạch năm. Trong đó: Xuất khẩu đạt 76,37 triệu USD, tăng 17,94% và đạt 80,39%; nhập khẩu ước đạt 26,73 triệu USD tăng 82,04%, đạt 59,39% so với kế hoạch. 

5. Giá cả

5.1. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)

Trong tháng có ngày nghỉ lễ kéo dài, các hoạt động văn hóa, văn nghệ, vui chơi, giải trí diễn ra rất sôi nổi trên địa bàn tỉnh, thu hút đông đảo khách du lịch và người dân tham gia các hoạt động, góp phần tăng trưởng các ngành dịch vụ; cùng với đó, giá một số loại thực phẩm có chiều hướng tăng so với tháng trước do Dịch tả lợn Châu Phi diễn biến phức tạp; thời tiết trong tháng khô hanh thuận lợi cho xây dựng các công trình; nhu cầu sử dụng điện, nước của người dân tăng so với tháng trước; tính bình quân trong tháng Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam điều chỉnh tăng giá bán lẻ xăng, dầu so với tháng trước... Tác động chung làm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 9 năm 2025 tăng 0,22% so với tháng trước, so với cùng kỳ năm trước tăng 1,29% và so kỳ gốc năm 2019 tăng 10,63%. Bình quân quý III, CPI giảm 0,18% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng, CPI giảm 0,52% so với cùng kỳ năm trước.

Trong mức tăng 0,22% của CPI tháng Chín năm 2025 so với tháng trước, có 6 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng, 3 nhóm hàng hoá có chỉ số giá giảm và 2 nhóm có chỉ số bình ổn. 

(1) Sáu nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng gồm: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,31% (lương thực tăng 0,47%, thực phẩm tăng 0,18% và ăn uống ngoài gia đình tăng 0,73%); đồ uống thuốc lá tăng 0,22%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,15%; giao thông tăng 0,71%; bưu chính viễn thông tăng 0,23%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,27%.

(2) Ba nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm gồm: May mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,26%; thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,04%; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,27%. 

(3) Hai nhóm có chỉ số giá ổn định so với tháng trước là: Thuốc và dịch vụ y tế và giáo dục.

CPI bình quân quý III giảm 0,18% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: 03 nhóm hàng có chỉ số giá giảm (giao thông giảm 2,46%; giáo dục giảm 21,25%; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,12%) và 08 nhóm hàng có chỉ số giá tăng (hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,89%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,12%; may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 1,51%; nhà ở, điện nước, chất đốt và VLXD tăng 1,47%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,96%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,5%; bưu chính viễn thông tăng 0,16%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,06%). 

CPI bình quân 9 tháng giảm 0,52% so với bình quân cùng kỳ năm trước. Trong đó: 03 nhóm hàng có chỉ số giá giảm (giao thông giảm 4,39%; bưu chính viễn thông giảm 0,01%; giáo dục giảm 27,35%) và 08 nhóm hàng có chỉ số tăng (hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,19%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,07%; may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 1,15%; nhà ở, điện nước, chất đốt và VLXD tăng 1,2%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,45%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 4,75%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,12%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 3,11%). CPI bình quân 9 tháng năm 2025 giảm so với cùng kỳ năm trước do một số nguyên nhân chủ yếu sau:

(1). Trong 9 tháng năm 2025, Tổng công ty Xăng dầu Việt Nam điều chỉnh giá bán lẻ xăng, dầu nhiều lần đã tác động làm chỉ số nhóm giao thông giảm 4,39% so với cùng kỳ năm trước. Giá Xăng bình quân 9 tháng năm 2025 giảm 2.692 đồng/lít so với bình quân 9 tháng đầu năm 2024.

(2). Để kích cầu tiêu dùng, các hãng điện thoại liên tục có nhiều đợt khuyến mại giảm giá bán là nguyên nhân chủ yếu làm cho giá mặt hàng điện thoại thông minh 9 tháng đầu năm 2025 giảm.

(3). Thực hiện Nghị quyết số 04/2024/NQ-HĐND ngày 18 tháng 6 năm 2024 về quy định mức học phí năm từ 2023-2024 đối với các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông công lập trên địa bàn tỉnh đã tác động làm giảm chỉ số giá nhóm giáo dục.

* Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ 

Chỉ số giá vàng tháng 9 tăng 6,53% so với tháng trước, tăng 62,53% so với cùng kỳ năm trước, tăng 238,57% so với kỳ gốc 2019 và bình quân quý III tăng 57,98%. Tính chung 9 tháng, chỉ số giá vàng tăng 36,12% so với cùng kỳ năm trước.

Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 9 tăng 0,26% so với tháng trước, tăng 6,52% so với cùng kỳ năm trước, tăng 13,43% so với kỳ gốc 2019 và bình quân quý III tăng 4,67%. Tính chung 9 tháng, chỉ số giá đô la Mỹ tăng 3,7% so với cùng kỳ năm trước.

5.2. Chỉ số giá sản xuất

Chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản quý III/2025 giảm 0,46% so với quý trước, tăng 2,21% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể: Sản phẩm nông nghiệp giảm 0,48% và tăng 2,35%; sản phẩm lâm nghiệp và dịch vụ có liên quan giảm 0,18% và tăng 1,17%; sản phẩm thủy sản nuôi trồng, khai thác giảm 0,39% và tăng 0,4%.

Chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp quý III/2025 giảm 0,1% so với quý trước, tăng 1,73% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Sản phẩm khai khoáng tăng 0,37% và tăng 2,02%; công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,68% và tăng 0,9%; điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 1,48% và tăng 3,99%; nước tự nhiên khai thác; dịch vụ quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,39% và tăng 1,81%.

Chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất quý III/2025 tăng 0,94% so với quý trước, tăng 1,65% so với cùng kỳ năm trước. Do trong quý Tổng công ty Xăng dầu Việt Nam đã điều chỉnh tăng, giảm giá bán lẻ xăng dầu nhiều lần đã tác động làm chỉ số giá xăng dầu tăng; một số sản phẩm dùng trong xây dựng có giá bán tăng do cơ quan chức năng siết chặt việc khai thác (cát, sỏi....), nhu cầu xây dựng bắt đầu tăng đã tác động làm tăng chỉ số nhóm.

III. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI

1. Lao động, việc làm

Tình hình lao động, việc làm quý III, 9 tháng năm 2025 có xu hướng tăng trưởng. Lực lượng lao động, số người có việc làm và thu nhập bình quân tháng của lao động tăng so với quý trước và cùng kỳ năm trước.

Với đặc thù là tỉnh miền núi, dân số sinh sống chủ yếu ở khu vực nông thôn với hoạt động sản xuất là nông, lâm nghiệp và thủy sản. Do vậy, nguồn lao động của tỉnh có sự phân biệt rõ rệt giữa 2 khu vực và được tập trung chủ yếu ở khu vực nông thôn. Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên 9 tháng năm 2025 ước tính là 355.082 người, tăng 2.36% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Lao động ở khu vực thành thị có 53.623 người (chiếm 15,1%) và khu vực nông thôn là 301.459 người (chiếm 84,9%). 

Dự tính lao động có việc làm trong 9 tháng là 353.095 người, tăng 2,54% so với kỳ trước, trong đó lao động ở khu vực thành thị là 53.269 người (chiếm 15,09%) và nông thôn là 299.826 người (chiếm 84,91%). Chuyển dịch cơ cấu có xu hưởng giảm tỷ lệ lao động trong các ngành nông, lâm, thủy sản và tăng tỷ lệ lao động ở các ngành xây dựng và dịch vụ.

Có nhiều cơ hội tìm kiếm việc làm, nhiều sự lựa chọn cho người lao động, thực hiện giải quyết việc làm mới 9 tháng năm 2025 cho 8.282 lao động, đạt 90,02% kế hoạch . Đào tạo nghề cho 4.250 lao động, đạt 50% kế hoạch. Có 53.561 người tham gia BHXH (bao gồm: 38.961 người tham gia BHXH bắt buộc, đạt 95,96% kế hoạch; 14.600 người tham gia BHXH tự nguyện, đạt 33,45% kế hoạch). Có 31.046 người tham gia bảo hiểm thất nghiệp, đạt 84,95% kế hoạch.

Trong 9 tháng, có 858 người nộp hồ sơ bảo hiểm thất nghiệp (quý III có 378 người); số người có quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp là 755 người (quý III có 385 người). Tổng số tiền hưởng trợ cấp thất nghiệp là 17.469,56 triệu đồng (quý III là 8.119,86 triệu đồng). Tiếp tục thực hiện tốt công tác tiếp nhận, giải quyết chế độ chính sách, BHTN cho người lao động trên địa bàn tỉnh.

2. Đời sống dân cư, an sinh xã hội

2.1. Đời sống dân cư

Đời sống các tầng lớp dân cư tỉnh Điện Biên 9 tháng năm 2025 tương đối ổn định và có xu hướng khá hơn so với cùng kỳ. Trên địa bàn diễn ra nhiều lễ hội như: Lễ hội Hoa Ban; Lễ hội thành Bản Phủ; lễ hội Festival tinh hoa Tây Bắc - Điện Biên năm 2025… cùng các chương trình kỷ niệm các ngày lễ lớn trong năm, là điều kiện thuận lợi cho các ngành nghề dịch vụ trên địa bàn tỉnh phát triển nhanh và bền vững, đặc biệt là phát triển về du lịch. Trong quý III, mặc dù bị thiệt hại do thiên tai gây ra về tài sản và trong sản suất nông nghiệp của người nông dân. Tuy nhiên, được sự quan tâm sát sao, vào cuộc kịp thời của chính quyền các cấp, các ban ngành liên quan nên các hoạt động sản xuất, kinh doanh được khôi phục và tiếp tục phát triển; đời sống của đồng bào các dân tộc trên địa bàn tỉnh ngày càng ổn định.

Chương trình xây dựng nông thôn mới trong những năm qua có tác động tích cực, góp phần nâng cao đời sống người dân khu vực nông thôn. Tính đến hết tháng 6/2025 trên địa bàn tỉnh Điện Biên có 26/115 xã đạt chuẩn NTM. Từ tháng 7/2025 đến nay, do sắp xếp chính quyền địa phương 2 cấp, cùng với các tiêu chí công nhận có sự thay đổi nên chưa kết quả công bố về số xã đạt chuẩn NTM.

2.2. Kết quả thực hiện các chính sách với người có công, bảo trợ xã hội

a) Đối với người có công

Trong dịp tết Nguyên đán Ất Tỵ năm 2025, từ nguồn kinh phí phân bổ của trung ương, của tỉnh, của xã; từ nguồn vận động hỗ trợ các tập thể, cá nhân, toàn tỉnh đã tiếp nhận và thực hiện hỗ trợ, tặng 2.677 suất quà cho người có công bằng 1.031,75 triệu đồng.

Trong quý III, thực hiện đầy đủ các chính sách ưu đãi đối với người có công với Cách mạng; thực hiện chi trả trợ cấp hằng tháng cho 1.008 lượt người với tổng kinh phí thực hiện chi trả là 10.506 triệu đồng. Thực hiện tốt chính sách trợ giúp xã hội trên địa bàn tỉnh, trợ giúp xã hội thường xuyên cho trên 33 nghìn đối tượng hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng với số tiền trong quý là 73.140 triệu đồng.

Trong quý, thực hiện giải quyết chế độ ưu đãi, giải quyết mai táng phí và trợ cấp tiền tuất cho 37 thân nhân của người có công khi người có công với cách mạng từ trần với tổng số tiền 802,63 triệu đồng. Giải quyết mai táng phí cho 14 Cựu chiến binh từ trần với tổng số tiền 327,6 triệu đồng. Thực hiện mai táng phí 05 Dân công hoả tuyến với tổng số tiền 117 triệu đồng. Thực hiện mai táng phí 01 Thanh niên xung phong với số tiền 23,4 triệu đồng. Giải quyết chế độ mai táng phí cho 28 người  với tổng số tiền 632 triệu đồng. Giải quyết trợ cấp một lần cho 01 người hoạt động kháng chiến, giải phóng dân tộc, bảo vệ tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế với kinh phí 7,11 triệu đồng. Cấp tiền mua phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình, phương tiện, thiết bị phục hồi chức năng đối với người có công với số tiền là 4,2 triệu đồng.

Nhân dịp kỷ niệm 78 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947- 27/7/2025), các đồng chí lãnh đạo tỉnh cùng các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh tổ chức thăm hỏi, tặng quà của Chủ tịch nước và 3.815 suất quà cho các gia đình chính sách, người có công với tổng giá trị là 1.966,67 triệu đồng.

b) Bảo trợ xã hội 

Trong 9 tháng, thực hiện hỗ trợ thiếu đói dịp tết Nguyên đán cho 4.368 hộ (giảm 362 hộ so với cùng kỳ năm trước) với 17.751 khẩu (giảm so với cùng kỳ năm trước 1.599 khẩu), số gạo hỗ trợ 266,49 tấn. Hỗ trợ gạo thiếu đói giáp hạt cho tổng số 9.745 hộ (43.868 khẩu) với số gạo được hỗ trợ cứu đói là 846,46 tấn.

Trong 9 tháng, thực hiện cấp phát 464.923 thẻ Bảo hiểm y tế miễn phí (giảm so với cùng kỳ năm trước 3.056 thẻ, nguyên nhân do giảm một số đối tượng được nhận thẻ BHYT miễn phí). Trong đó: Trẻ em dưới 6 tuổi 79.166 thẻ, bảo trợ xã hội và cựu chiến binh 10.233 thẻ, người nghèo 128.651 thẻ, cận nghèo 3.611 thẻ, người có công và thân nhân 1.362 thẻ, người cao tuổi 124 thẻ, người tham gia kháng chiến 1.071 thẻ, người đã hiến bộ phận cơ thể 3 thẻ, người dân tộc nằm trong vùng đặc biệt khó khăn 234.140 thẻ và người kinh sống trong vùng đặc biệt khó khăn 6.562 thẻ.

Tổ chức 06 lớp  tập huấn về nội dung phòng, chống mua bán người và công tác hỗ trợ nạn nhân bị mua bán cho 139 lượt cán bộ các cấp. Hỗ trợ 75 suất quà cho 75 trẻ em có hoàn cảnh khó khăn với tổng số tiền 26.250 nghìn đồng (mỗi suất quà trị giá 350 nghìn đồng).

2.3. Công tác giảm nghèo

Kết quả tổng rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2024 theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022-2025 trên địa bàn tỉnh Điện Biên. Tỷ lệ nghèo đa chiều trên địa bàn toàn tỉnh là 33,25% với tổng số hộ là 47.361 hộ. Trong đó: Tỷ lệ hộ nghèo là 21,29% tương ứng 30.327 hộ; tỷ lệ hộ cận nghèo là 11,96% tương ứng 17.034 hộ.

3. Giáo dục - Đào tạo 

Năm học 2025-2026, quy mô trường lớp tiếp tục được rà soát, sắp xếp theo hướng giảm đầu mối, phù hợp với tình hình thực tế của địa phương và của ngành giáo dục, theo chủ trương của Đảng. Công tác huy động dân số ra lớp, duy trì tỷ lệ học sinh đi học chuyên cần, giảm tỷ lệ học sinh bỏ học; các chỉ tiêu đều thực hiện đạt và vượt kế hoạch giao.

Toàn tỉnh có 480 trường công lập, trung tâm  (trong đó: 167 trường mầm non (787 điểm trường mầm non), 295 trường phổ thông (360 điểm trường tiểu học), 17 trung tâm công lập và tư thục, 01 trường cao đẳng sư phạm). So với kế hoạch UBND tỉnh giao vượt 03 trường, trung tâm (480/477 trường, đạt 100,63% kế hoạch giao); với khoảng 7.354 lớp và 206.220 học sinh, sinh viên và học viên . Về tỷ lệ thực hiện kế hoạch tỉnh giao, có 7.354/7.356 lớp, đạt 99,97% kế hoạch; có 206.220/206.631 học sinh, sinh viên và học viên, đạt 99,8% kế hoạch.

Chuẩn bị tốt các điều kiện và triển khai hiệu quả, đúng quy định Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 theo lộ trình, phù hợp điều kiện thực tế. Tổ chức thành công kỳ thi Tốt nghiệp THPT 2025, thi học sinh giỏi cấp tỉnh, thi tuyển sinh vào lớp 10 đảm bảo an toàn, nghiêm túc, đúng quy chế. Kết quả 6.731 thí sinh được công nhận đỗ tốt nghiệp THPT năm 2025 đạt tỷ lệ 99,82%, điểm trung bình các môn thi đỗ tốt nghiệp THPT cao nhất trong 10 năm gần đây.

Hiện nay, các cơ sở giáo dục mầm non và phổ thông trong toàn tỉnh đạt tỷ lệ xây dựng kiên cố như sau: 77,26% phòng học; 45,14% phòng học bộ môn; 54,92% phòng nội trú học sinh; 44,5% phòng công vụ giáo viên. Đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục, huy động tối đa các nguồn lực để đảm bảo các điều kiện thực hiện đổi mới chương trình và thay sách giáo khoa cấp Tiểu học; cấp THCS và cấp THPT. Tuyển sinh đầu cấp, đặc biệt vào lớp 6 và lớp 10, đạt và vượt kế hoạch đề ra. Tỷ lệ trường mầm non, phổ thông đạt chuẩn quốc gia đạt 99,22% kế hoạch năm, tăng 2,98% so với cùng kỳ năm trước. Quy mô trường lớp được tinh gọn theo lộ trình, hoạt động có hiệu quả theo mô hình 2 cấp.

Đẩy nhanh tiến độ thành lập phân hiệu Đại học Thái Nguyên, Đại học công nghệ FPT tại tỉnh Điện Biên; sáp nhập, thành lập Trường Cao đẳng Điện Biên ; sắp xếp lại hệ thống Trung tâm GDNN-GDTX nhằm tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ yêu cầu phát triển của địa phương. Đẩy mạnh triển khai Dự án xây dựng Trường liên cấp tiểu học, trung học cơ sở xã Si Pa Phìn, tỉnh Điện Biên (trường học ở xã biên giới do Trung ương đầu tư).

4. Y tế

4.1. Tình hình dịch bệnh và công tác phòng, chống dịch

Tình hình dịch bệnh: Tính đến ngày 10/9/2025, trên địa bàn tỉnh xảy ra 03 ổ dịch  với 360 ca mắc, không ghi nhận tử vong, điều trị khỏi 360/360 ca (giảm 01 ổ dịch và tăng 333 ca mắc so với cùng kỳ). Các ổ dịch trên đã được điều tra, xác minh, chẩn đoán và triển khai các biện pháp xử lý kịp thời.

Công tác phòng chống dịch: Ngành y tế tiếp tục triển khai thực hiện nghiêm túc, chủ động, đồng bộ các biện pháp phòng chống dịch trên địa bàn theo Kế hoạch phòng chống dịch bệnh truyền nhiễm ở người năm 2025 của UBND tỉnh. Tăng cường công tác truyền thông bằng nhiều hình thức giúp cho người dân hiểu và chủ động tham gia phòng chống dịch bệnh.

4.2. Tình hình lây nhiễm HIV/AIDS 

Tình hình nhiễm HIV/AIDS trên địa bàn tỉnh, tính đến 30/8/2025, có 45/45 xã, phường có người nhiễm HIV. Luỹ tích toàn tỉnh có 7.858 ca nhiễm HIV, trong đó: có 42 ca mắc mới; số chuyển AIDS luỹ tích 5.445 ca (không có ca AIDS mắc mới); số tử vong lũy tích 4.228 ca (trong đó: tử vong mới 42 ca; số còn sống quản lý được 3.410 ca đạt 93,9% người nhiễm HIV trên địa bàn). Tỷ lệ nhiễm HIV còn sống/dân số 0,51%.

4.3. Tình hình vệ sinh an toàn thực phẩm 

Công tác truyền thông về vệ sinh an toàn thực phẩm được tăng cường, đặc biệt trong dịp tết Nguyên đán Ất Tỵ và mùa lễ hội Xuân, Lễ hội Hoa Anh Đào, Lễ hội Hoa Ban và các lễ hội khác của tỉnh, tháng hành động vì ATTP năm 2025 đảm bảo an toàn.

Hoạt động kiểm tra, giám sát an toàn thực phẩm: Thành lập 280 đoàn kiểm tra về ATTP thực hiện kiểm tra đối với 2.995 cơ sở trên địa bàn. Kết quả 100% số cơ sở đạt yêu cầu về ATTP.

Tiếp tục thực hiện việc kiểm tra và cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện ATTP cho các cơ sở sản xuất, chế biến và kinh doanh thực phẩm thuộc phân cấp quản lý. Lũy tích cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện ATTP hoặc ký cam kết đảm bảo ATTP trên địa bàn toàn tỉnh 2.092/2.111 cơ sở (chiếm 99,1%).

Tính đến 05/9/2025, trên địa bàn tỉnh xảy ra 03 vụ ngộ độc thực phẩm với 21 ca mắc, 100% các vụ ngộ độc thực phẩm được điều tra, xác minh kịp thời (cùng kỳ năm 2024 không có ca mắc, 0 tử vong). 

5. Hoạt động văn hóa, thông tin, Thể dục thể thao và du lịch

5.1. Sự kiện đặc biệt

Trong 9 tháng năm 2025, tỉnh Điện Biên đã tổ chức thành công nhiều hoạt động như: Lễ hội Hoa Anh Đào, Lễ hội Hoa Ban và Ngày hội Văn hóa, Thể thao và Du lịch các dân tộc lần thứ VIII năm 2025; Festival Tây Bắc - Điện Biên năm 2025… với nhiều hoạt động đặc sắc, góp phần quảng bá hình ảnh, văn hóa, con người Điện Biên tới du khách trong và ngoài nước, tạo không khí vui tươi, phấn khởi trong Nhân dân. Triển khai các hoạt động kỷ niệm 50 năm Giải phóng miền Nam, 71 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ, 135 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiêu biểu là Chương trình nghệ thuật “Non sông gấm vóc - Một dải vinh quang” ngày 03/5/2025, thu hút đông đảo người xem, khơi dậy lòng tự hào dân tộc, tri ân các anh hùng liệt sĩ, người có công với cách mạng. Tỉnh cũng đẩy mạnh các hoạt động văn hóa, văn nghệ tuyên truyền chào mừng Đại hội Đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIV của Đảng.

5.2. Hoạt động quản lý Nhà nước và văn hóa, văn nghệ

Công tác tuyên truyền: Công tác tuyên truyền, cổ động các hoạt động, sự kiện của tỉnh, của đất nước tiếp tục được đẩy mạnh bằng nhiều hình thức phong phú, góp phần định hướng dư luận xã hội, tạo sự đồng thuận trong Nhân dân và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn. Trong 9 tháng, các đội tuyên truyền lưu động toàn tỉnh đã thực hiện 559 buổi hoạt động tuyên truyền lưu động, phục vụ 317 nghìn lượt người, đạt 70,4% kế hoạch; căng treo 8.800 biển hiệu pano, băng, cờ, khẩu hiệu, đạt 55,8% kế hoạch.

Hoạt động nghệ thuật quần chúng: Phong trào nghệ thuật quần chúng trên địa bàn tỉnh tiếp tục phát triển, gắn với các ngày lễ lớn, sự kiện chính trị, văn hóa quan trọng của đất nước và của tỉnh. Trong 9 tháng, đã tổ chức 53 hoạt động văn hóa, văn nghệ; toàn tỉnh hiện có 1.240 đội văn nghệ quần chúng, tăng 12 đội so với cùng kỳ, tổ chức 2.652 buổi biểu diễn với 333 nghìn lượt người xem, đạt 74% kế hoạch.

Hoạt động nghệ thuật chuyên nghiệp: Hoạt động nghệ thuật biểu diễn từng bước được củng cố và nâng cao năng lực phục vụ. Trong 9 tháng, tổ chức dàn dựng, tập luyện 04 chương trình nghệ thuật, đạt 80% kế hoạch; tổ chức biểu diễn 95 chương trình phục vụ nhiệm vụ chính trị của tỉnh, đạt 73,1% kế hoạch, phục vụ hơn 210 nghìn lượt người xem. Nhiều chương trình nghệ thuật có quy mô lớn, chất lượng cao, để lại ấn tượng sâu sắc.

Hoạt động hệ thống Thư viện: Trong 9 tháng, hệ thống thư viện nhập bổ sung 10.201 bản, sách nâng số sách có đến cuối kỳ báo cáo là 238.086 bản, đạt vượt mức 13,3% kế hoạch; cấp 5.996 thẻ cho độc giả, phục vụ 271.966 lượt độc giả, đạt 100% kế hoạch; có gần 589 nghìn lượt tài nguyên thông tin được phục vụ, vượt mức 8,8% kế hoạch.

Hoạt động phát huy giá trị di sản văn hóa: Công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh tiếp tục được quan tâm, triển khai; công tác tu bổ, tôn tạo các di tích lịch sử - văn hóa được triển khai đúng quy định, gắn với phát huy giá trị di tích phục vụ phát triển du lịch và giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ. Trong 9 tháng, hai bảo tàng và Ban Quản lý di tích đã triển khai xây dựng kế hoạch và tổ chức 29 cuộc trưng bày, triển lãm; duy trì mở cửa nhà trưng bày và các điểm di tích, dự ước phục vụ 279.263 lượt khách , đạt 62,2% kế hoạch, trong đó có 4.979 lượt khách nước ngoài, đạt 85,1% kế hoạch.

5.3. Hoạt động thể dục thể thao

Phong trào TDTT cho người dân: Phong trào thể dục thể thao quần chúng tiếp tục được duy trì và phát triển sâu rộng, thu hút đông đảo Nhân dân tham gia. Đến nay, tỷ lệ số người tập luyện thể dục, thể thao thường xuyên đạt 34,75% trên tổng số dân toàn tỉnh; tỷ lệ hộ gia đình thể thao đạt 23,75% trên tổng số hộ gia đình toàn tỉnh; có 455 câu lạc bộ thể dục, thể thao cơ sở; 100% số trường phổ thông thực hiện đầy đủ chương trình giáo dục thể chất nội khóa. Trong 9 tháng, toàn tỉnh tổ chức được 410 giải thi đấu, trong đó cấp toàn quốc 05 giải; cấp tỉnh 13 giải; cấp ngành 95 giải; cấp xã 227 giải; các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, trường học, đơn vị lực lượng vũ trang và các tổ chức khác tổ chức 70 giải. 

Thể thao thành tích cao: Trong 9 tháng, đã thành lập 16 đoàn cán bộ, huấn luyện viên, vận động viên tập huấn và thi đấu các giải thể thao khu vực toàn quốc, kết quả đạt 66 huy chương các loại (25HCV; 13HCB; 28HCĐ). Tổ chức thành công các hoạt động thể thao tại Lễ hội Hoa Ban năm 2025 và Ngày hội Văn hoá, Thể thao và Du lịch các dân tộc tỉnh Điện Biên lần thứ VIII. Có nhiều giải thi đấu thể thao cấp tỉnh, ngành được tổ chức. Tập trung triển khai công tác chuẩn bị tổ chức Đại hội thể dục, thể thao tỉnh Điện Biên lần thứ XII năm 2026.

5.4. Lĩnh vực du lịch

Trong 9 tháng năm 2025, ngành du lịch tiếp tục là điểm sáng và đạt được nhiều kết quả tích cực. Công tác xúc tiến, quảng bá du lịch tiếp tục được triển khai đồng bộ, đa dạng về hình thức, nội dung, gắn với các sự kiện chính trị, văn hóa, thể thao lớn của tỉnh. Tư vấn, hỗ trợ, cung cấp thông tin cho hơn 10.175 lượt khách du lịch, 108 lượt doanh nghiệp du lịch tìm hiểu thông tin về du lịch Điện Biên.

Tính chung 9 tháng, lượng khách du lịch đạt 1.075,1 nghìn lượt, giảm 30,46% so với cùng kỳ, đạt 74,14% kế hoạch (trong đó: Khách quốc tế đạt 9,7 nghìn lượt, tăng 10,39%, đạt 3,23% kế hoạch). Tổng doanh thu từ hoạt động du lịch đạt 1.951,9 tỷ đồng, giảm 30,24% so cùng kỳ năm trước, đạt 81,33% kế hoạch. 

6. Tai nạn giao thông, cháy nổ, vi phạm môi trường 

6.1. Tai nạn giao thông

Từ 15/7/2025 đến 14/8/2025, trên địa bàn toàn tỉnh đã xảy ra 2 vụ tai nạn giao thông làm bị thương 03 người . Nguyên nhân do người điều khiển không chú ý quan sát, đi sai làn đường, phần đường.

Lũy kế từ ngày 15/11/2024 đến ngày 14/8/2025, trên địa bàn tỉnh đã xảy 59 vụ tai nạn và va chạm giao thông, làm 21 người chết, 56 người bị thương. So cùng kỳ năm trước: Số vụ tai nạn giảm 15,71%; số người chết giảm 12,5%, số người bị thương giảm 25,33%. Nguyên nhân do vi phạm tốc độ khi điều khiển phương tiện, người đi bộ sang đường sai quy định, vượt xe không đúng quy định, đi sai làn đường, phần đường; vi phạm về nồng độ cồn.

6.2. Cháy nổ 

Từ ngày 15/11/2024 đến ngày 14/8/2025, trên địa bàn tỉnh xảy ra 16 vụ cháy, gấp 2 lần so cùng kỳ năm trước; không có thiệt hại về người, ước thiệt hại khoảng 2.714 triệu đồng, tăng 87,4%. Nguyên nhân cháy là do sơ xuất trong quá trình sử dụng nguồn lửa và sự cố thiết bị điện.

6.3. Tình hình vi phạm môi trường

Trong tháng 9/2025, các cơ quan chức năng đã phát hiện 18 vụ vi phạm môi trường và xử lý 22 vụ với tổng số tiền phạt 404,6 triệu đồng, tăng 18,16 lần so với tháng trước và tăng 4,99 lần so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng, đã phát hiện 346 vụ vi phạm môi trường và xử lý 373 vụ với tổng số tiền phạt là 1.982,66 triệu đồng, tăng 11,08% so với năm trước. Các vụ vi phạm môi trường thuộc lĩnh vực lâm nghiệp, khoáng sản và ô nhiễm môi trường. 

7. Tình hình thiệt hại do thiên tai và hỗ trợ thiên tai

Tính chung 9 tháng, trên địa bàn tỉnh xảy ra 24 đợt thiên tai làm 12 người chết, 19 người bị thương; 4.144 con gia súc, gia cầm bị chết và cuốn trôi; 1.159,64 ha lúa và 372,98 ha rau màu bị hư hỏng; 223 nhà bị hư hỏng; thiệt hại về giao thông, thủy lợi, trường học và các thiệt hại khác. Tổng giá trị thiệt hại về tài sản ước tính 1.378,2 tỷ đồng.

* Hỗ trợ thiệt hại thiên tai: Ngay sau các đợt thiên tai, tính từ đầu năm đến nay tỉnh Điện Biên đã chủ động sử dụng nguồn ngân sách dự phòng, nguồn hỗ trợ khẩn cấp từ Trung ương và các nguồn hỗ trợ hợp pháp khác để khắc phục hậu quả do thiên tai với tổng số tiền hỗ trợ là 293 tỷ đồng và 100 tấn gạo từ nguồn Dự trữ Nhà nước.

Tác giả bài viết: Thống kê tỉnh Điện Biên

Ghi rõ nguồn "Thống kê tỉnh Điện Biên" hoặc "https://thongkedienbien.nso.gov.vn" khi phát hành lại thông tin từ các nguồn này.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây